Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

Thơ MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH

MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH
Thơ lục bát và...

Văn bút

Lá xanh cõng nắng sang mùa
Phất phơ sương khói hiên chùa gọi nhau
Làm thơ, hoa cỏ chụm đầu
Bức tranh mây nước gam mầu nhẹ loang
Tâm lang thang, ý lang thang
Vẽ vời dăm chữ, mấy hàng tặng xuân
Non kia đá đứng trầm ngâm
Đời vui văn bút, mê lầm chút chơi!

Thơ HuyềnKhôngSơnThượng Minh đức Triều Tâm Ảnh

Thơ
HuyềnKhôngSơnThượng
Minh đức Triều Tâm Ảnh


Chùm thơ ngụ ngôn

bụi
bụi, đừng xoa, đừng phủi
ngắm nhìn tĩnh tại thôi
gió lao xao khóm trúc
mất tích ở cuối vời!
hỏng rồi
đêm qua không ngủ được
bài tứ tuyệt chưa xuôi
uống trà, nghe chim hót
câu thơ hỏng nữa rồi!

về tim
đời rẽ phân muôn nẻo
thương nhau, biết đâu tìm
lối xa, đường về óc!
ngõ gần, đường về tim!

thênh thang
cửa sài hai cánh mở
mây trắng bước vào ra
phù sinh chừ rỗi việc
rong chơi suốt bốn mùa

vết lửa
ngọn đuốc còn đỏ rực
sáng ngọn núi linh thiêng
thơ cao cả uy nghiêm
xuống trần mang vết lửa!

phòng thơ
trên trời chim có tổ
dưới đất cáo có hang
ta có chỗ ẩn thân
một phòng thơ đầy Phật

trên sông
bạc đầu chưa xuống núi
gõ gậy ca nghìn trùng
từ lâu quên tiếng nói
thở và cười trên sông!

cuộc về
ta đến khi trăng lên
ta về lúc trăng lặn
trọn một cuộc sơn xuyên
ta chưa hề di động!

qua rừng tía
con chim qua rừng tía
buồn nghển cổ hót chơi
ta có mặt giữa đời
thả thơ nghe suối chảy

đá chận đường
thơ ta đề một cõi
đạo ta đề muôn phương
ra đi không ngoảnh lại
mới hay đá chận đường!

cõi này
cõi này cao thăm thẳm
gậy này bước khơi vơi
năm tháng ta rong chơi
chỗ chẳng trời chẳng đất!

hạt muối
khách từ ngàn dặm núi
gió cô liêu thổi về
ta đứng giữa sơn khê
hư không rơi hạt muối!

Thơ HuyềnKhôngSơnThượng
Minh đức Triều Tâm Ảnh/ Bùi Kim Anh gửi bài
nnb vi tính giới thiệu


Thơ TRẦN NGỌC ƯỚC

Thơ
TRẦN NGỌC ƯỚC

LÊN YÊN TỬ
Ta không đi bán, chẳng tìm mua
Vui bước du xuân vãn cảnh chùa
Thắp nén hương trầm thơm cõi Phật
Cho lòng thêm ngọt giữa cay chua


Đến suối Giải oan để viếng thăm
Ngàn lau sùi sụt uốn dây đàn
Nén hương ai thắp hương còn ngát
Nước mắt rơi vào đẫm thế gian

Vi vút đường tùng, lối trúc reo
Lên cao từng bước một ta leo
Dấu chân người cũ còn vương lại
Một giọt mồ hôi, một bước trèo
Trên đỉnh Phù vân - cực lạc đâu?...
Chùa cong một mái, đá phong rêu
Trùng trùng mây bạc cùng hoang vắng
Vẳng tiếng chuông ngân lạnh mái đầu...
Thiên cổ người ơi giữa sắc không
Trầm luân một kiếp với non sông
Vô vi bóng hạc tâm thành phật
giữa chốn thâm u tỏa sắc hồng
Ta không đi bán, chẳng tìm mua
Vui bước du xuân đến cửa chùa
Quỳ xuống nép mình vào bóng Phật
Để lòng thêm ngọt giữa cay chua.../.
.
Yên tử ngày 10-2-2004

Thứ Năm, 30 tháng 8, 2012

Mùa Vu Lan/ Lê Xuân Đố đọc thơ Kinh Thành Cổ Tích

Thơ nguyennguyenbay/ lexuando tb
NƠI ẤY/ KINH THÀNH CỔ TÍCH
LYPHUONGLIEN.BLOGSPOT.COM

Chùm thơ ngày Vu lan/ Thơ NGUYỄN MINH KHIÊM

Chùm thơ ngày Vu lan

NGUYỄN MINH KHIÊM

.
Chữ tâm

Cái gì như cũng bình yên
Cái gì như cũng bày lên mặt sàng
Sáng choang thước ngọc khuôn vàng
Thẳng băng đường lớn chẳng hang hốc nào
Sao đời mẹ cứ chênh chao?
Bước đen bước trắng sập vào muôn nơi!
Khi thì sập bởi nụ cười
Khi thì sập bởi một lời nghĩa nhân
Khi thì sập bởi thánh thần
Khi thì sập bởi bão vần chớp lay
Đời lành như cỏ như cây
Bao nhiêu hầm hố bủa vây vô hình!
Bữa cơm ở chốn thiên đình
Cũng gài đặt bẫy xung quanh mẹ ngồi
Bông hoa dâng Ngọc Hoàng cười
Bao nhiêu hầm hố dưới nơi mẹ nằm!
Đời lênh đênh một chữ tâm
Đến khi yên nghỉ, mẹ thầm trao con.
3.8.2011

Mùa Vu Lan/ Thơ Phạm Vân Hiền


Mùa Vu Lan
Thơ Phạm Vân Hiền

Tiếng rên

Gió lùa ngọn lửa xốn xang
Gà con lạc mẹ râm ran gọi chiều
Mẹ cha già yếu liêu xiêu
Tấm thân tứ đại còn neo bến đời
Tiếng rên não ruột rối bời
Lối về nghĩa địa trăng rơi chờn vờn
Đêm dài xây xẩm cô thôn
Vọng cơn ngủ gật chập chờn tiếng rên.

Ơn mẹ

Con về ngồi dựa đống rơm
Thương bàn tay mẹ dẻo thơm hạt vàng
Chìm trong thất bát mùa màng
Nuôi con hạt gạo trên sàng: Hụt hơi


Thơ Phạm Văn Hiền/ Tác giả gửi bài

nnb vi tính giới thiệu



Thứ Tư, 29 tháng 8, 2012

Vài ý nghĩ về Thơ Việt hôm nay



Và những cách ứng xử với Thơ
.
NGUYỄN ANH TUẤN

 
Thời gian dài vừa qua, đời sống văn hóa & tinh thần nói chung, đời sống văn chương nói riêng đã diễn ra tình trạng loạn chuẩn tới mức báo động, và nổi lên những hiện tượng kỳ dị- nổi bật nhất là tình trạng "lạm phát thơ" ( như tên một bài viết), mà đỉnh cao (hay thực chất là biến tướng quái đản của nó) là hiện tượng người làm thơ dám tự nhận "mượn bút tiền nhân"...
Là một người yêu thơ, và đang làm một công việc có thể nói là lấy thơ ca làm gốc, tôi xin mạnh dạn góp mấy lời lạm bàn về hiện trạng trên.
Đúng là có sự thật: "Nhan nhản những tập thơ vô thưởng vô phạt xuất hiện trong các giải thưởng, trên quầy sách, trên bàn thờ tổ tiên hay trên những trang mạng cá nhân. Đó là thứ thơ sáo mòn, nhạt thếch và cũ rích, tưởng như vừa khai quật trong bãi thải của quên lãng...Nhưng cũng không ít người say mê với nó và tưởng mình không thua gì Nguyễn Bính, Xuân Hương khi được một số độc giả khen vuốt ve trên mạng ảo…" ("Hiện tượng vè hóa, văn xuôi hóa và cũ hóa Thơ…cần báo động" - Nguyễn Trọng Tạo - trieuxuan.info ). Quả thực có chuyện: "Thơ thập- diện- mai- phục… thơ làm tắc nghẽn mọi ngóc ngách, ngõ hẻm, đường sá, giao lộ tinh thần khiến cho thơ sạch không có lối đi." ( "Vấn nạn thơ đầy đường"- trannhuong.com). Bản thân tôi cũng đã bày tỏ thái độ trước sự lạm phát thơ này trong vài bộ phim truyện truyền hình phát trên Văn nghệ chủ nhật, như phim "Trời cho- trò chơi": một ông được đền bù đất đai đã vung tiền cho mình và vợ con làm sang- vợ mở phủ, con gái mua sắm, còn bản thân thì cho in thơ "con cóc" của mình để khoe và để biếu (do một cò mồi kích thích dẫn dắt mà diễn viên Xuân Bắc thủ vai rất đạt)
Nhưng, đó chỉ là một nửa của sự thật, đúng hơn, là cái mặt nổi của sự thật.
Lòng yêu thơ, có thể nói là cái phần tốt đẹp nhất trong những tình cảm tốt đẹp còn sót lại sau những cuộc tàn phá kinh hoàng của nền kinh tế thị trường méo mó đối với nhân tính và các mối quan hệ xã hội. Tôi rất tâm đắc với một ý kiến của tác giả Thi Thi: " Nếu có một ngày toàn nhà thơ tham gia giao thông thì chắc chắn nạn tắc đường giảm đi rất nhiều, bởi dù đấy là nhà thơ ở cấp độ nào thì đều là những người có tâm hồn phong phú, có nhân tính, biết nhường nhịn nhau. Đặc biệt nếu có chút va chạm không tránh khỏi vì quá đông thì cũng không xảy ra xô sát lớn, vì ngoài các yếu tố trên, trong túi các nhà thơ nhiều nhất cũng chỉ có cây bút và cuốn sổ, không bao giờ có dao, kiếm, dùi cui điện hay súng… Còn nếu các nhà công quyền lại đồng thời là các nhà thơ thì lại tốt quá, người dân chắc không phải điêu đứng vì thói hống hách, quan liêu, cửa quyền, tham lam vô độ…("Đất nước càng nhiều nhà thơ càng tốt"- nguyennguyenbay.com)
Trong một lần trả lời phỏng vấn, nhà thơ Hoàng Cầm có nói đại ý rằng: tính cách của người Việt rất gần gũi với thơ - đó là lối sống tình cảm đối với bạn bè, bà con làng xóm, nhường cơm sẻ áo trong hoạn nạn... Trải qua mấy nghề nghiệp, đi tới nhiều vùng đất, tôi đã tự mình kiểm nghiệm được cái đúc kết giản dị và lý thú trên của thi sĩ Hoàng Cầm... Xin kể một chuyện nhỏ. Dạo ấy, sau khi chuyển vùng từ Tây Bắc, tôi nhận công tác ở một trường cấp ba huyện ngoại thành Hà Nội. Cô tài vụ của trường có vẻ ác cảm với một kẻ tự ti lầm lỳ như tôi, hoặc coi thường anh giáo nghèo miền núi trở về, nên cứ vào kỳ lĩnh lương, cô thường để tôi phải đi tới đi lui dăm bẩy bận, đến phát khùng lên mới được lĩnh hết lương. Một buổi, tôi vào phòng tài vụ chờ rất lâu. Có cuốn sổ tay để mở, tôi tò mò cầm đọc. Hóa ra là sổ chép thơ tình, có cả mấy bài thơ dịch Puskin. Có nhiều câu chép sai, sai cả chính tả. Tôi liều mạng lấy bút ra sửa giúp. Khi cô tài vụ về, chưa kịp thoái thác với tôi là hôm nay chưa có tiền lương, cô chợt nhìn thấy tôi cầm cuốn sổ, bèn giật lấy nhìn, thấy mấy chỗ sửa. Tôi tái mặt lo lắng. Nhưng số tôi thực may mắn. Cô đọc một lúc, vẻ lạnh lùng khinh khỉnh dần biến mất, rồi nhẹ nhàng hỏi: "Anh sửa đấy à?" Tôi ấp úng gật đầu: "Tôi...Tôi là giáo viên văn mà...". Cô dường như quên phắt cái sứ mạng là phải hành hạ một "ma mới" như tôi, hào hứng: "Anh thuộc nhiều thơ không? Chép hộ em với nhé?" Thế là hôm đó, lần đầu tiên sau hơn nửa năm chuyển vùng về, tôi được lĩnh lương đúng hạn...Mà công đầu là do Thơ; đúng hơn là do tâm hồn yêu thơ của một cô gái tuy có nhiều nét tính cách không dễ chịu gì cho lắm nhưng chỉ một cái đức yêu thơ đó cũng đủ thể tất nhân tình cho tất cả... Gần đây nhất, khi về làm phim tại thôn Duệ Đông- một trong 49 làng quan họ gốc Bắc Ninh, tôi được tặng một tập thơ kỷ niệm 15 năm ngày thành lập CLB thơ Duệ Đông (15/8/ 1997- 15/8/2012) mà tác giả là những liền anh liền chị cao tuổi. Trong số những tác giả mà tôi được tiếp xúc, tôi đặc biệt chú ý tới bà Nguyễn Thị Ngọc Viên. Say mê tiếng hát quan họ cổ của bà, tôi còn rung động sâu sắc trước cuộc đời bà: chồng và cả ba người con đều lần lượt ra đi do tai nạn & bệnh tật bất ngờ, trong nhiều năm bà đã cắn răng để sống, để hát quan họ, truyền dạy hát quan họ cho lớp trẻ, và làm thơ. Thơ của bà dung dị, chân thật, đượm xót xa ngọt ngào và thấm như câu ca quan họ:
Cánh sen gọi nắng trưa hè
Mưa rào bất chợt, ướt nhòe thơ tôi...
Những câu thơ & những bài thơ như thế của bà, của cả CLB thơ Duệ Đông, và của rất nhiều CLB thơ trên toàn quốc đang lấp lánh trong biết bao tập thơ đã được in ra. Có thể nói, chúng là nguồn thơ ca dân gian vô tận để từ đó hình thành nên những đỉnh cao văn chương bác học- thời xưa là thế mà thời nay cũng chẳng khác mấy. Nếu có những tập thơ nào đó được sản xuất ra với mục đích ngoài thơ ca và có nguy cơ làm "tắc nghẽn mạch giao thông tinh thần"- thậm chí làm mọi người bị ngộ độc, thì đó chỉ là số ít!
Nhà thơ Trần Dần sinh thời đã có lần bênh vực loại thơ ca dân gian đó như sau:
"Con đường số 7 của tao/ Nó đi theo giặc tao đào nó đi. Hai câu thơ đó là đúng hay sai chính trị?... Cụ Hoài Thanh, anh Xuân Diệu bảo là sai chính trị...Tôi rất khen hai câu thơ đó. Tôi cho rằng nó đúng chính trị, đúng lập trường. Tình cảm nó gợi lên: mạnh mẽ, phong phú, chua xót mà chủ động. Người đào đường lớn hơn con đường, con người mạnh bạo, chủ động, chua xót, làm một việc bất đắc dĩ mà cần thiết. Đó là chính trị, là lập trường của hai câu thơ...Người thi sĩ có quyền nói tha hồ, nói sống nói chết, nói bừa nói bãi, nói sao thì nói rốt cục tình cảm đọng lại mạnh mẽ, phong phú, xốc người ta lên yêu ghét hành động. Cho nên thường khi người ta thấy người thi sĩ nói những điều rất phi lý: trèo trời đục đất. Có lúc người thi sĩ biến thành ánh trăng, một vì sao. Lúc biến thành con mãnh thú. Lúc biến thành chiến sĩ, thành Tiên, thành quả núi, con sông, v.v. Tất cả mọi chuyện thực là vô lý, có khi như sai chính trị, sai sự thực, như là duy tâm nữa. Nhưng nếu tình cảm đọng lại mạnh mẽ, thôi thúc, xô đẩy người ta lên thì không sai chút nào cả- như hai câu thơ trên kia..." ( "Thơ chính trị- thơ chính sách"- Tư liệu riêng của gia đình nhà thơ Trần Dần )
Không ít những lời tâm huyết nói về Thơ trong thời buổi lạm phát Thơ và chắc chắn tìm được đồng cảm của nhiều người thậm chí không hề làm một câu thơ, xin mạn phép được trích dẫn đôi dòng:
" Thường nhân làm thơ không phải để trở thành vĩ nhân hay để trở thành thánh nhân, mà mong mỏi trở thành hiền nhân...Niềm sáng tạo thi ca mệt mỏi trước nỗi ma lực chữ nghĩa đớn đau, chỉ khát khao góp cho khách tri âm chút đồng cảm nhỏ nhoi về số phận và phẩm giá từng con người trong xã hội. Tôi nghĩ, đó là những tiếng thở dài mơ hồ rất cần được lắng nghe và trân trọng.... Khoảng cách từ sự thăng hoa trên bàn viết nhà thơ đến tác phẩm trên tay độc giả, dường như càng ngày càng vời vợi hơn, mà nhiều toan tính và nhiều xao xác đã bắt đầu nhen nhóm. Thực trạng có vẻ bẽ bàng kia đã làm tôi ái ngại, nhưng không hề khiến tôi tuyệt vọng về sức mạnh cứu rỗi của thi ca. Tất nhiên, tôi không dự định kỳ diệu hóa năng lực nhà thơ, nhưng tôi dám chắc sự gặp gỡ ngỡ tình cờ giữa những tâm hồn, đôi khi có thể chở che không ít u uẩn, đôi khi có thể xoa dịu không ít đắng cay!" ("Phê bình thơ, nên khen hay nên chê?"- Lê thiếu Nhơn)
"Đúng là thơ hay - bao giờ cũng xuất phát từ những nỗi niềm sâu thẳm của tâm hồn, từ những trải nghiệm máu thịt và suy ngẫm giàu lòng nhân hậu về cuộc đời và phận người trong thế gian này - chứ đâu phải cứ băm bổ chạy theo nào là “hiện đại”, “hậu hiện đại”, nào là “hội nhập” với văn chương nhân loại,  rồi thì “đổi mới” bằng mọi giá… là có thơ hay đâu. Một bằng chứng hùng hồn và thực tế đáng buồn là bạn đọc yêu thơ đang quay lưng lại với thơ mới hôm nay…"(Triệu Lam Châu- thieunhon.com)
"Sao trước những sự kiện bức xúc của đời sống, thơ không lên tiếng, thơ lặng câm? Những bài thơ cất lên ở các dạ hội, đêm thơ, ngay cả của các nhà thơ Việt, hình như vẫn ở bên ngoài thời sự của cuộc sống hôm nay của người dân?   ("Nghĩ từ liên hoan thơ quốc tế Việt Nam lần thứ nhất" -Phạm Xuân Nguyên- lethieunhon.com)
"Theo ý tôi, cái truyền thống vinh quang của người thi sĩ là ở chỗ lúc nào họ cũng thấy có trách nhiệm gắn bó với cuộc sống. Họ là những người biết yêu ghét vui mừng hay căm giận ở một mức độ cao hơn mọi người. Họ là những người lúc nào cũng tha thiết với chính nghĩa và tự thấy như mình phải có một sứ mệnh: làm cái tiếng nói trong sáng nhất, can đảm nhất và tha thiết nhất của con người. Cũng chính vì có mang được cái truyền thống đó trong mình nên người làm thơ mới được xã hội cần đến." ("Mấy Ý Nghĩ Về Thơ"- Quang Dũng  -Vanchuongviet.org)
"Bên cạnh đó thơ ca mang đến đời sống cho mọi người. Họ làm thơ không phải để thúc đẩy sự phát triển, mà để sống, chia sẻ, kêu gọi chống lại sự vô cảm, xấu xa trong xã hội. Mỗi giai đoạn có những nhà thơ xuất sắc, mở ra nhiều giọng điệu, làm cho ngôn ngữ tiếng Việt chứa đựng nhiều vẻ đẹp hơn." (Toan Toan- tienphong.vn)
Viện sĩ Viện Hàn lâm Petrov đã cho chúng ta thấy sự trăn trở về Thơ ở nước ta thực ra cũng là mối quan tâm của nhiều dân tộc trên thế giới, và chúng càng có giá trị thời sự với hôm nay: "Tôi không phải là nhà tiên tri, nên không thể đoán được thơ ca sẽ đi đến đâu, và tác động của nó như thế nào. Nhưng theo tôi nghĩ, thơ ca vẫn có thể là một cái gì đấy cứu vãn được con người.
Thơ ca xuất phát từ những suy nghĩ của những nhà tiên tri ngày xưa, suy nghĩ về cuộc đời, suy nghĩ về ý nghĩa của con người trên Trái Đất. ...Từ đó thơ ca dần phát triển và được người ta chú ý đến. Ngoài ý nghĩa trên, nó còn có tính hình tượng và đẹp nữa, mang những nghĩa ấn dụ, bóng gió để nói lên suy nghĩ về những vấn đề cốt lõi của cuộc đời...Đọc một bài thơ mà không hiểu cái gì cả, lại chưa chắc đã hay nữa, vậy thì người ta lại tìm đến cái đơn giản, cái cụ thể cho cuộc sống của họ. Một ngày nào đó, mọi người lại có nhu cầu, tìm kiếm một điều gì đó cần thiết để vươn lên, vượt lên, thì có một câu trả lời đang chờ người ta ở trong bài thơ. Đấy là chức năng thơ. Cái đó vẫn tồn tại." ("Thơ ca, hay là câu chuyện "số đông - số ít"-  NNB.com)
Đạo diễn điện ảnh Tự Huy- cháu bốn đời của nhà giáo, nhà văn hóa, nhà thơ lớn Nguyễn Văn Siêu có kể cho tôi nghe một câu chuyện thú vị về nhà thơ Trần Dần. Nhà thơ vốn nổi tiếng là người chịu khó tìm tòi cách tân Thơ này bảo ông Tự Huy: "Có một bài ca dao cổ tuy hay nhưng tôi không đồng tình với nội dung và hình thức của nó:
Tình cờ bắt gặp nàng đây
Đòi cắt cái áo đòi may cái quần
May rồi anh sẽ trả công
Ít nữa lấy chồng, anh sẽ giúp cho
Giúp em một thúng xôi vò
Ba con lợn béo một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp đôi chằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan tư tiền cưới lại đèo buồng cau..."
Nhà thơ Trần Dần đã làm lại bài ca dao. Và nhà thơ đã đọc cho đạo diễn Tự Huy nghe bài thơ đó, nguyên văn như sau:
Bao giờ em đi lấy chồng
Để anh sắm sanh quà cưới
Anh mừng em đôi chiếu mới
Em về trải kín giường đôi
Anh đi sang tận làng Ngòi
Tìm mua gạo cẩm
Xu xuê bánh cốm tự anh buộc lạt điều..
Em có cần anh đầu cỗ
Bảo người nhắn gọi anh sang
Giò lụa chạo nem, thịt quay xôi gấc
Vật bò mổ lợn
Con dao anh cắt, nuột lạt anh thắt
Giò thủ anh nén, nước xuýt anh nếm, nạc mỡ anh pha
Cỗ lòng anh thuốn, gỏi cuốn anh cuộn
Mâm son anh dọn, đĩa trúc anh so...
Hay em nhờ anh giúp về văn nghệ
Để anh sửa soạn chương trình
Máy hát anh mượn, trò vui anh chọn
Bạn bè anh đón
Tuyên bố lý do anh nói
Kèn tàu anh thổi.
Anh lưu tới cuối tiệc tan
Khách muộn anh tiếp, đèn rạp anh tắt
Thuốc lá thừa anh nhặt
Xong xuôi anh về!"
Tôi chợt nảy ý nghĩ: bài thơ làm lại này của thi sĩ "thủ lĩnh trong bóng tối" (Phạm Thị Hoài) có thể coi như một nhát búa tạ phang vào cái thói "làm duyên làm dáng" (Lưu Trọng Lư) của nhiều nhà "hoạn quan trữ tình" (Maiakovski), giáng mạnh vào cái thực chất trống rỗng về tư tưởng, nghèo nàn về vốn sống và kém cỏi về tiếng Việt nên đành phải mượn cái vỏ hiện đại, hậu hiện đại rất khụng khiệng để che lấp của không ít nhà thơ chúng ta hôm nay.
Đáng mừng là, giữa cái loạn chuẩn về giá trị Thơ, có một nhóm nhà thơ phía Nam đã tình nguyện đứng ra làm một loạt "tập thơ hay", với tinh thần vô tư, không vụ lợi, nhằm góp phần chuẩn hóa, định giá chính xác về Thơ Việt hiện đại. Tập đầu tiên của "Thơ Bạn Thơ"- gồm 5 tập ( Nguyễn Nguyên Bảy & Lý Phương Liên chủ biên) đã ra đời vào dịp Lễ Xá Tội Vong Nhân năm nay. Giá trị nội dung nghệ thuật chứa đựng trong những tập thơ đó ra sao, người đọc đông đảo sẽ có thời gian thẩm định; có điều, đó thực sự là những "tuyên ngôn" bằng thơ chân chính có tác dụng thanh tẩy những gì không phải là Thơ, hạ thấp Thơ, thậm chí giả Thơ... Công việc này có thể là một hồi chuông thức tỉnh, một sự mở đầu cần thết để phục hưng lại những giá trị thơ ca đích thực đã từng bị lem luốc một cách oan uổng trong những năm tháng vừa qua.

Đạo diễn- nhà báo Nguyễn Anh Tuấn

Bài viết Nguyễn Anh Tuấn/ Tác giả gửi bài
nnb vi tính giới thiệu

Chùm thơ tham gia THƠ BẠN THƠ tập 2/ Thơ Đào Mạnh Long


 
Thơ
Đào Mạnh Long

ĐT: 0975584914
Email: daomanhlong_hp1995@yahoo.com.vn

TRƯA HÈ

Mây đi vắng
Rỗng khung trời tháng năm
Con chim sẻ tha hạt nắng
Thả vàng mùa hạ.

Cắn vỡ ban trưa
Tiếng ve tràn lênh láng
Gió quăng lưới
Vớt bóng mặt trời chết đuối dưới đáy sông.

Bên gốc bưởi giấu trong mắt lá những chùm hoa trắng tinh khôi
Con say tròn giấc ngủ
Hương mùa lóng ngóng đậu trên lời ru mặn giọt mồ hôi
Buộc vào gót ngày ngờ nghệch
Cánh võng đong đưa chở cả trưa hè.


Thơ VŨ MẠNH QUANG


Thơ
VŨ MẠNH QUANG

.
MA NƠ CANH

Ma nơ canh chẳng biết cười
Mắt không nhỏ lệ nhìn đời tỉnh bơ
Vào miền lửa bỏng quay lơ
Thả nơi sóng nước vật vờ nổi lênh

Đặt đâu thì đứng đấy im
Kệ ai đau đớn có tim đâu mà!
Thấy tàn phai chẳng xót xa
Dửng dưng vô cảm không da thịt gì

Vẽ môi kẻ mắt tô mi
Chỉ quần áo thật, khác gì hậu vương
Bốn mùa đứng giữa kính gương
Nhìn đời bằng cặp mắt giương vô hồn

May sao trên trái đất tròn
Bao con tim thật vẫn còn ngân rung
Vẫn còn chị ngã em nâng
Và bao người tự nguyện dâng máu mình...
 
.
Thơ VŨ MẠNH QUANG/ Tác giả gửi bài
nnb vi tính giới thiệu

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2012

THƠ LÂM NGUY


THƠ LÂM NGUY

Phạm Xuân Nguyên

Nửa đầu tháng 8/2012 có hai vụ việc về thơ.

Vụ thứ nhất là tập Thi vân Yên Tử của Hoàng Quang Thuận. Đó là một tập thơ bình thường, có thể nói là tầm thường nữa. Ai thăm chùa vãn cảnh có hứng sinh tình có thể viết thơ ghi lại cho mình, thơ viết về chùa tất có địa danh phong cảnh chùa, có ngôn ngữ chùa, nhưng chỉ ghi vào mấy cái tên, mấy từ ngữ mà bảo thơ đó là có đạo, có thiền thì lại nhầm lớn, sai nặng. Mà còn phải xem đó có phải là thơ, hay chỉ là những câu văn vần ghép lại, nhất là khi người viết muốn in thành tập và phổ biến. Còn như người viết tự cho là mình được thần nhập thì là chuyện huếnh hoáng của cá nhân, nói ra chẳng bõ làm trò cười cho con trẻ. Cốt là văn bản thơ, là văn tự in ra trên giấy. Mà đọc vào đó thì tôi nói rồi, Thi vân Yên Tử là tập thơ, đành phải gọi vậy, đến mức tầm thường, tán chuyện chùa chiền lung tung, lăng nhăng. Cách đây vài ba năm, Hoàng Quang Thuận đã bắt trường đại học Quảng Bình hội thảo rùm beng về tập này. Một giảng viên gọi điện cho tôi hỏi thực chất thứ thơ đó, tôi bảo tầm phào, ở Hà Nội không ai nghe biết. Vậy cớ gì những nhà thơ biết làm thơ biết đọc thơ biết thẩm thơ ở một hội chuyên môn thơ văn của cả nước lại khen ngất trời, lại hội thảo ầm ĩ? Tôi chịu không biết những lý do ẩn đằng sau vụ này. Khi vụ việc xảy ra nhiều báo hỏi tôi, tôi bảo không muốn dây vào cái chuyện lố bịch. Tôi chỉ thấy sự đọc thơ thoát ly văn bản, bất chấp văn bản để nói lấy được, khen lấy được như vậy là một sự nhảm nhí, nhố nhăng. Và tôi gọi đó là cơn mê lú tập thể.

Vụ thứ hai là bài thơ “Lời những cây dầu cổ thụ ở trụ sở ủy ban nhân dân” của nhà thơ Đàm Chu Văn (Đồng Nai). Đây là một bài thơ khá hay, chất chứa nỗi buồn của con người trước môi trường sinh thái tự nhiên và sinh thái văn hóa đang bị tàn phá, ô nhiễm, khiến cho quan hệ con người và tự nhiên, con người và con người bị mất cân bằng, bị chao đảo. Bài thơ làm lời cây tâm sự buồn nhưng đưa lại được những hiệu ứng thẩm mỹ tích cực cho người đọc để sống nhân ái hơn, tốt đẹp hơn với thiên nhiên, với đồng loại. Vậy mà một nhà thơ nữ tên Trần Thu Hằng cũng ở Đồng Nai đã lên tiếng phê phán bài thơ đó mà điều đáng nói là lời phê lại quy chụp chính trị cho tác giả và tác phẩm. Điều này là một sự bất bình thường đáng sợ và đáng căm phẫn. Một tác phẩm văn học để ngỏ cho nhiều cách đọc, nhưng phải là cách đọc văn chương, theo hệ quy chiếu văn chương, bằng những tiêu chí văn chương. Văn học nước nhà đã một thời gian dài có lắm vụ việc quy kết, chụp mũ tư tưởng chính trị cho truyện ngắn này, bài thơ kia, mà đến khi cởi bỏ được, giải oan được, thì tác giả thậm chí đã thân tàn ma dại. Chúng ta đã thoát khỏi tình trạng đó từ thời đổi mới do bầu không khí tư tưởng của xã hội đã được thông thoáng, cởi mở hơn. Không ngờ một nhà thơ nghe đâu còn trẻ, nghe đâu vừa mới được vào hội nhà văn trung ương, lại vẫn cố ý đọc thơ theo cái cách cũ kỹ và nguy hiểm như vậy. Và tôi gọi đó là sự ngộ độc cá nhân. Cũng không ngờ ban tuyên giáo Đồng Nai thay vì giao cho hội văn học nghệ thuật tỉnh, nhất là chi hội văn học, bàn luận phân tích bài thơ dưới góc độ văn học, thì lại đã tổ chức một cuộc “đối thoại” (thực chất là truy bức nhà thơ) kéo dài bốn giờ liền.

Thơ lâm nguy vì thơ dở được tung hô và thơ hay bị đấu tố.

Bài Phạm Xuân Nguyên/ Lethieunhon.com giới thiệu
nnb vi tính giới thiệu in sách Văn Bạn Văn, tập cực ngắn



Thơ Chu Thị Linh Quang


Thơ
Chu Thị Linh Quang

   Tel: 0433831483,dđ: 0979058375

     MẸ NGỒI ĐÓ

     Mẹ ngồi ghé góc hè chật chội
     Bên chiếc cân âm thầm chờ đợi những bàn chân
     Mái tóc mẹ trắng như bông
     Đôi mắt mẹ không vui không buồn ...
     Một bàn chân bước lên,
     Một chiếc giày thả xuống,
     Một con đường lầm lụi mờ xa...
     Mẹ rướn vai đỡ đòn tre chín rạn
     Bên đàn con,
     Còn bên kia mưa nắng,
     Mỗi bên nào ai biết nặng bao nhiêu?
     Một bàn chân lam lũ bước lên,
     Một chiếc giày bóng loáng dậm xuống,
     Chiếc kim đỏ xoay tít ngả nghiêng
     Chiếc kim đỏ dừng lại: 74 cân!
     -59 cân! trừ giày và áo quần!
     Người khách vội vàng châm thuốc hút,
     Bước xuống đất và vứt lại đồng xu.
    
     Mẹ ngồi đó tóc trắng như mây,
     Mây lững thững trôi trên vầng trán...
     Ánh mắt mẹ vời xa thăm thẳm ...
     Lặng lẽ cân,
     Lặng lẽ Thừa- trừ


Thơ NGUYỄN HIẾU

Thơ NGUYỄN HIẾU

Tinh mơ hè tùy hứng cau

Ngực chũm choẹ run rẩy chạm mây
Hớn hở hương bâng quơ thả vào gió
Quả chớp vàng má bừng hây
Lá cong xanh ve vẩy câu hỏi cũ

Mẹ bảo những ba đồng một mớ trầu cay
Dưới gốc cau bố chuếnh choáng say
Con mướp non gào tình trong trăng lặng
Chuột già lích rích ngọn cây
Chợ xa muối mắm nào chả mặn
Cha đi bao giờ chả nói con hay

Lứa sẻ tháng năm đã bắt đầu chuyền
Bẹ đã tách,tre cứ chờ kẽo kẹt
Me phồng ngọn chửa nắng xiên
Gáo nghiêng trưa hè xuôi cơn khát
Bên chum má lúm đồng tiền

Ai thách ba đồng mớ trầu cay
Tiếc ngày không chẳng về được nữa
Chim xổ lồng chim cứ bay
Trái cau chín dâng dâng lửa
Chuôi nào dao sắc gọt đây

Chớp mắt bóng câu qua cửa
Ta ngồi chờ nhặt mo rơi
Kéo thuyền cháu nội ra khơi


Thứ Hai, 27 tháng 8, 2012

Thơ Bạn Thơ Một sân chơi rộng mở và lý thú



Thơ Bạn Thơ
Một sân chơi rộng mở
và lý thú

Dương Hiền Nga 

 
Tập: “Thơ Bạn Thơ” -  nhà xuất bản Văn học năm 2012, chủ biên: Lý Phương Liên và Nguyễn Nguyên Bảy vừa mới ra mắt độc giả đã thu hút được sự chú ý của những người yêu thơ hay, yêu cái đẹp.  
Điều quí giá ở tập “Thơ Bạn Thơ” chính là sự “chí công vô tư” của hai vợ chồng nhà thơ chủ biên, là tấm lòng đầy ắp tình thi hữu của anh chị với các bạn thơ, với cuộc đời. Trong số tác giả có bài in trong tập, có  nhiều  gương mặt đã thành danh, đã có nhiều bài thơ “đi cùng năm tháng”, còn có một số tác giả chưa bao giờ tự nhận mình là: “Nhà thơ”. Người đọc nhớ tới quan niệm về thơ trong: “Thủng thẳng với thơ” của nhà thơ Nguyễn Nguyên Bẩy: thơ là thơ”, hay nói một cách khác, thơ hay, thơ chân chính đồng nghĩa với cái đẹp, mà cái đẹp thì không phân biệt vị trí xã hội và trường tồn với thời gian.
Tập thơ được chia làm ba phần, phần một là 99 câu thơ hay của 99 tác giả, do nhà thơ Hoàng Xuân Họa tuyển chọn đã được giải chính thức, công bố trên Tuần báo Văn nghệ số 1+ 2 ngày 2.9.2010. Phần 2  là thơ của 10 nhà thơ đã khuất: Hoài Anh/ Trần Hòa Bình/ Nguyễn Trọng Định/ Bùi Giáng/ Hải Kỳ/ Nguyễn Lâm/ Lưu Trọng Lư/ Dương Kiều Minh/ Tường Vân/ Lê Trí Viễn. Phần 3 là thơ của 55 tác giả ở mọi miền đất nước và để thể hiện sự công tâm, hai chủ biên đã không đưa thơ của mình vào, mặc dù hầu hết những ai trưởng thành vào những năm 70 về trước, đều thuộc lòng thơ của hai người.
Cầm tập thơ được trình bày công phu, trang trọng và đẹp mắt bạn đọc cảm nhận được tình yêu thơ của hai vợ chồng nhà thơ Lý Phương Liên và Nguyễn Nguyên Bảy chưa bao giờ tắt lửa. Chưa nói đến công phu chọn đọc và bỏ kinh phí ra  tạo một sân chơi bổ ích cho những người yêu thơ chân chính.
Những bài thơ trong tập đủ các đề tài, thể loại và cách thể hiện, mỗi bài đều như những vì sao, tỏa ra những ánh sáng lấp lánh trong dải ngân hà. Đây là những lời chân tình, mộc mạc mà trĩu nặng tình người của cố nhà thơ Hoài Anh:
Cầu thang nhà em
Lên rất khó, xuống rất dễ
Nhưng với anh
Lên rất dễ, xuống rất khó
Lên: Lồng ngực lao về phía trước
Xuống: Trái tin rớt lại đằng sau
(Cầu thang)
Chỉ mấy câu thôi mà tâm trạng, tình cảm, sức hút vô hình với bao cung bậc của tình yêu được diễn tả một cách chân thành, dung dị, đặc biệt với hình ảnh “Lồng ngực lao về phía trước”“Trái tin rớt lại đằng sau” thật là độc đáo.
Và đây là những quan sát, suy tư của nhà thơ Trần Ninh Hồ trong bài: “Giá sách và dòng sông”:
Nhìn giá sách ngàn vạn trang
Không hiểu sao người viết được
Có dòng nào trùng lặp không
Như ngàn ao tù nước đọng
Giá sách – nơi lưu trữ tri thức của nhân loại được so sánh với dòng sông chuyên chở phù sa ươm những mùa vàng tạo một dụng ý nghệ thuật sâu xa. Tác giả hỏi bao thứ để tìm đến ngọn nguồn và rồi vỡ òa trong chiêm nghiệm về con người, còn mất và những gì để lại cho muôn sau trong dòng đời đầy sóng gió:
Những trang văn dồn nước xiết
Những câu thơ lọc ánh trời
Ôi cả những dòng sông chết
Đáy bùn vân sóng còn trôi
Tháng giêng 2012
Còn đây là những sắc màu thổ cẩm và tình yêu chân thành của người vùng cao Tây Bắc. Hy vọng rồi tức tưởi, thẫn thờ trước tình yêu khó nắm bắt như nắng thổ cẩm trong thơ của nhà thơ trẻ Phùng Hải Yến:
Anh dắt trâu đến hỏi con gái bản bên
Em tức tưởi chạy ào vào khung dệt
Gỡ tấm chăn đêm, ngày thêu tay từng chút
Thẫn thờ ra sân

Em tung tấm chăn trên dây phơi
Tấm chăn làm sợi nắng lung linh màu
Ôi, nắng thổ cẩm
Nắng thổ cẩm rất gần mà tay không thể với                       
(Nắng thổ cẩm)
Người đọc thấy đã phát lộ những tia sáng của chất thơ đích thực. Ba bài thơ trên có phải là những bài hay nhất của tập thơ hay không, xin thưa đây chỉ là sự chọn đọc ngẫu nhiên.
Trong khi độc giả đang dần quay lưng lại với thơ bởi chất lượng và những vụ xì căng đan, thì tập “Thơ Bạn Thơ” như tấm gương trong vắt, mà khi soi mình vào đó ta thấy nhan sắc của thơ và phẩm hạnh của người cầm bút, nhan sắc và phẩm hạnh của những người biết trân trọng nâng niu thơ hay, trân trọng cái đẹp và nâng niu tình thi hữu. Điều đó không chỉ làm chúng ta tin rằng những tập tiếp theo chắc chắn sẽ thu được nhiều thành công hơn nữa mà còn làm cho chúng ta thêm tin yêu vào sức sống kỳ diệu của thơ.  


Hà Nội 8.2012