Thứ Ba, 28 tháng 2, 2012

Thơ Bùi Văn Bồng


 Chùm thơ ĐẤT và NHÀ NÔNG

Bùi văn Bồng

1-  MÀU XANH TIÊN LÃNG
          
   (Kính tặng đồng chí Đoàn Duy Thành, nguyên Phó
    Thủ tướng, nguyên Bí thư Thành ủy Hải Phòng 1982-1985)

Biển gầm gào xô bờ đê mới đắp
Biết bao công sức trôi xuống biển sâu
Những cái lắc đẩu
Bậm môi mặn chát dồn thêm ý chí
Ôi, công dã tràng
Thôi, đành đắp lại
Người gánh, người gồng đẫm mồ hôi muối biển
Người kè, người chống ngăn sóng trào dâng
Lấn biển, cần trí dũng
Lấn biển, phải kiên cường
Ông nhìn nông dân mà buồn cay khóe mắt
Đất đai - máu, mồ hôi và nước mắt
Ông họ Đoàn, lo sao toàn dân đoàn kết
Duy Thành, duy nhất chỉ có thành công
Gian nan nào bằng lấp biển đào sông
Cơ khổ nào bằng ngực trần chắn sóng
Người lao động
Họ thật xứng anh hùng
Vai cùng chung
Trí hiệp sức
Nay đã ngời xanh Tiên Lãng trước biển Đông
Người bí thư Thành ủy kiên cường
Đoàn Duy Thành, người Hải Phòng vẫn nhớ
Nhớ khi ông quên ăn bỏ bữa
Cùng nông dân ngăn sóng giữ đê
Nhớ khi ông ngồi bên đồng lửa
Cùng nông dân bàn chuyện gieo trồng
Đất chật, người đông
Cần lấn biển
Những làng quê trù phú
Mùa vụ gió đồng hòa khúc hát biển xanh.
       Hải Phòng, 1987
.
2- ĐẤT LÀNG

Dấu chân ngày thơ bé
đi dày sít đường kim vá víu ngõ làng
tìm lại chẳng thấy
những ngón chân bấm trơn đường  mưa
nằm dưới lớp bê tông đường mới
Hơn ba mươi năm xa bến sông
bậc đá rêu phong chẳng thấy
bến vắng
        thuyền xa
                   lá rụng đầy
xóm Vạn Chài xanh ngắt vườn cây
nghèo cá sông cất công kiếm nghề xa xứ
Tôi ngược dốc cũ
rợn chiều một mình nghĩa địa
nhang khói cuối năm cay nồng gió
đứng trước mộ ngoại
tôi, tạ lỗi
mải miết theo đường công danh
không kịp về chịu tang bà ngoại
ân hận giờ chỉ biết gửi cỏ may
Bước qua ngõ Chùa
chẳng còn “ông già say”
theo mây tận đẩu tận đâu
ông có mang theo rượu bầu bánh tráng?
mây trắng trên đồng trôi bảng lảng
Đường làng
thưa thớt cỏ hoa đồng nội
xạc xào bờ tre níu chân mùa vụ
chợt thấy mầm non nhú
                        đất làng vào xuân.

3- VẾT CHAI TRONG BÀN TAY MẸ

Những lo toan rơi rụng xuống luống cày
Nắng bỏng rát vết chai tay cằn cỗi
Giọt mồ hôi
Chưa gặp đất đã bốc hơi
Nắng nung trời
Đất ruộng mùa khô như ai vừa nướng
Mẹ tôi
Tay chai sạn
Chân nhiều vết sần
Đất dưới chân vụn tan
Những ngón chân tỏe ra
                     ôm hết nhọc nhằn
Cái mầm mạ vần xoay chùm rễ trắng
Cây mạ non thầm lặng
Nắng như đun sôi ruộng cạn
Lúa vẫn xanh
Hai bàn tay chai sạn dày thêm
Vết chai sạn lặn vào đêm
Đêm ngụp lặn trở trăn mùa vụ
Mây vần vũ
Khát cơn mưa ruộng nứt nẻ chờ mong
Đứng bóng giữa trưa nồng
Bầu trời như cái chảo rang úp ngược
Mắt nhoèn mồ hôi vẫn mặn mòi mơ ước
Lúa vàng đầy sân
Thầm trách ai
Tay không vết sần chai
Không thao thức đêm dài trở trăn mùa vụ
Chân chưa chạm vết bùn mùa lũ
Đầu không đội nắng gội mưa
Sống quá dư thừa
Nhưng quá thiếu tình thương với nhà nông
                            tảo tần chân bùn tay lấm...
Muốn là chút dầu thoa luôn bên gối mẹ nằm
Hằng đêm
Dịu xoa lên vết chai trên bàn tay mẹ
Dịu xoa lên gót chân nứt nẻ
Nghĩ mà đau
         đã mấy lần làm được như thế
Giờ mẹ đã đi xa.

4- CHUYỆN TÌNH HAI LÚA

Cái tên cha mẹ đặt cho ông - ít ai nhớ
Đến lão nông vẫn Hai Lúa tên quen
Ngày đi hăm hở, đêm đêm trăn trở
Chuyện tình của ông trải dài như dòng sông
Ông không yêu người con gái
Đời sắp đặt nên vợ nên chồng
Hai vai nặng trĩu gánh gồng
Mùa vụ cứ xoay vần
                           đi rồi trở lại
Cái vòng quay của đất cuộn xoáy suốt thời trai
Giờ đã sang Giêng, Hai
Bão cuốn tận ven trời
Lũ lặn sâu ký ức
Người vợ tật bệnh hoài đã ra đi
Chỉ còn Hai Lúa
Nhung nhúc cháu con dắt đàn ngõ vắng
Đời vẹn nguyên những dấu lặng
Đời chao chát thăng trầm
Hai Lúa cuộn thuốc rê bên thềm
Nhìn mây trời nhả khói
Khói quyện mây chiều bối rối.
.
5- PHỐ LẦU
.
Người ta san lấp mặt bằng
Và tôn nền nhà vượt trên đỉnh lũ
Đất đen nhánh lấp lánh sa bồi
Đất nâu tươi rối bời cỏ dại
Màu của mồ hôi và máu
Những hố mắt thâm quầng
                         dài đêm thao thức
Trong đất cát san nền
Những giọt nước mắt
                            lặng rơi
Cao vút khách sạn chục tầng lầu
Trên nền đất trận địa năm xưa
Lá dừa nước và đám lục bình che khuất
Đây chiến công trận đánh tàu địch trên sông
Có người lính đã đi xa
Có người lính còn bôn ba
Có người lính chưa cửa nhà
Màu áo lính chưa phôi pha
Mảnh đất nhỏ giao tranh quyết liệt
Nay ngan ngát phố lầu
Tôi, kẻ đến sau
Rưng rưng thuở hào hùng theo câu hát
Nghe gió bưng biền chao chát
Và sông vẫn trong mát vỗ bờ
Bỗng ngẩn ngơ
Người năm xưa
                 nay chẳng có ai
                        được ở trong phố lầu
                               mới tinh và hào nhoáng?

6-  KHÓI ĐỐT ĐỒNG

Bung nở lên cuồn cuộn níu mây trời
Khói đốt đồng cuối mùa gió chướng
Trời đồng bằng mây bông trắng nõn
Sông Hậu xanh thăm thẳm trời xanh
Khói đốt đồng nồng nàn hương đất
Hương rạ rơm, hương cỏ làng quê
Ngun ngún cháy thẫm tươi màu mật
Tiếng cười em ngọt lịm  triền đê
Nổ lép bép gốc rạ mùa ngậm lũ
Ngậm sương đêm khao khát uống trời mai
Nước mắt lẫn mồ hôi dồn tụ
Những tro than mùa vụ mãi thơm hoài
Nhà nông vẫn đầu trần chân đất
Bấm đường trơn xẻ ngoác kẽ chân phèn
Mùa vụ đến tiếng cười loang gió chướng
Múc nước lu uống cạn cả mây trời
Mùa đốt đồng gió chiều hăng hắc khói
Là mùa vui nối vụ quánh sa bồi
Cứ lội bộ tắt đồng chân không mỏi
Những hạt mầm thao thức đợi mưa rơi.

.
7- TỨ GIÁC TRẮNG

Cuối mùa trào dâng nước lũ
Tha La, Trà Sư trắng xóa đập tràn
Mưa trắng đất trắng trời vần vũ
Hòn Đất, Kiên Lương ngập chứa chan
Cây muống biển úa cành hoa nở muộn
Phù sa dâng lênh láng Vàm Rầy
Tứ Giác Long Xuyên lại mùa trắng
Nước mênh mang đồng bưng
Giờ trời đã vào xuân xanh lúa
Nón trắng hoa đồng
Trắng cánh cò bay
Nhà nông xòe rộng bàn tay trắng
Gom nắng mùa thơm gọi lá mầm
Tứ giác trắng làn da em ngần trắng
Em như hoa thơm thảo đất làng
Rồi vườn xoài xôn xao hoa trắng
Trắng dòng kênh ngan ngát hương tràm
Làng mới trên phù sa vượt lũ
Nắng lên trắng lóa mái tôn chiều
Xuồng em ngược dòng lên Tứ Giác
Tóc em cài hoa trắng mộng mùa vui.

8- PHÙ SA QUÊ BIỂN

Có ai hát điệu Lới lơ(*)
Từ vùng đất mặn bây giờ lúa xanh
Từ con đê biển uốn quanh
Hàng cây vẫy gió mát lành chiều quê
Nơi câu hát ấy bay về
Có màu nón trắng mải mê trên đồng
Cánh buồm mắc nợ dòng sông
Phù sa mắc nợ ruộng đồng quê em
Chân trời con nước triều lên
Mồ hôi lấn biển tan trên đất phèn
Bao người thức trắng qua đêm
Loáng trơn cán cuốc thẫm đen màu bùn
Những đêm mưa lạnh chân run
Bồn chồn chớp giật mây đùn trời đông
Những trưa nắng cháy mặt sông
Vẫn xanh đáy mắt cánh đồng hôm nay
Tầm nhìn mở đến chân mây
Để cho câu hát đắm say trong chiều
Bây giờ sóng lúa vờn reo
Mới hay đồng đất chẳng nghèo phù sa
Lới lơ – câu hát bay xa
Điệu chèo ai nối quê ta quê mình.
------------
(*) Lới lơ, một làn điệu hát chèo Bắc bộ.
Thơ Bùi Văn Bồng
trannhuong.com

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét