Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2012

Bình Nguyên Trang giọt giọt huê tình


Bình Nguyên Trang giọt giọt huê tình
.
HOÀNG VIỆT HẰNG
.
Bình Nguyên Trang có một tuổi thơ sớm biết buồn, một nơi đi về heo hút ở thị trấn nhỏ Yên Định, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Nơi đó phủ đầy ký ức mờ sương trong hồ nước, những nóc nhà thờ tĩnh lặng thinh không, những  tiếng chuông ngân trong không gian cuối chiểu mùa đông  ảm đạm. Mười tuổi Trang đã phải  xa nhà để đi học trường nội trú. Sớm rời xa vòng tay mẹ nên Trang đã viết được những câu thơ thế này “Con lạc mẹ đã bao nhiêu năm/mỗi thiếu thốn dài 365 ngày sống”(Tích tắc thời gian). 365 ngày của một năm, chọn hai từ “thiếu thốn”  thật đúng chỗ, thật đắt tâm trạng để diễn tả thời gian sống, không gian sống tính bằng năm của một đứa con xa nhà. Lối diễn đạt giản dị của Bình Nguyên Trang trong bài thơ khiến người đọc dường như phải đọc cầm chừng, để thương cảm tình mẫu tử trong câu thơ dồn nén. Chỉ những ai thiếu vắng hơi mẹ từ thủa nhỏ mới thấm thía điều này. Trang làm thơ về sự ở trọ của mình, với rất nhiều trở trăn lớn hơn tuổi mình: “Em lớn khôn từ những ngôi nhà trọ/với lo âu điện nước sách đèn/với bạn bè những đêm đói lả” (Ở trọ)….để  học trên đường “những bài học nhỏ”, và cả để tìm kiếm tình yêu viết hoa trong cuộc đời này.
Với tình yêu, gần mười năm về trước, ở tập thơ: “Chỉ em và chiếc bình pha lên biết”, Bình NguyênTrang đã thú nhận rằng: “Em chẳng biết vì sao em yêu anh”. Đó là lần thú nhận rất thành khẩn, không ngụy biện không rào đón, dù cho “Chỉ có bông hoa cất từ nước mắt/ nở trong lòng em hai chữ vô tình”. Khi đó Bình Nguyên Trang còn rất trẻ, hai mươi lăm tuổi, đã viết được câu thơ  thức ngộ thế này: “Chiếc bình pha lê/ gìn giữ nó khó khăn như  giữ gìn hạnh phúc/ Nếu rớt xuống nó sẽ vỡ thành trăm giọt nước mắt…” (Chỉ em và chiếc bình pha lê biết).
Thứ tình yêu trái đắng, hẳn là chị đã nếm trải và tận hưởng, để viết câu thơ gan ruột: “Em đã tưới hoa bằng nước mắt của em”. Cũng từ lúc thú nhận thành khẩn về tình yêu đó, cách nhìn đêm của Bình Nguyên Trang khác lạ: “Vực dậy một ngày đã chết trong ta”.  Nghĩ ngợi nhiều hơn cần thiết ở độ tuổi này, những đêm tình yêu của Trang chất đầy tâm trạng: “Em nhìn đâu cũng giống cánh đồng không”….
Từ góc nhìn tình yêu chuyển sang góc nhìn đời sống, Bình Nguyên Trang đã nhìn nhẩn nha những thân phận cuộc đời nghèo khó.  Tôi tin rằng, để có thể biết chia sẻ thương cảm từ rất sớm với cuộc đời, với số phận con người, trái tim nhà thơ phải  lớn hơn cuộc đời này. Hãy nhìn khung cảnh phố huyện nghèo trong tâm trạng của kẻ đi xa ngày trở về, thật buồn: “Phố huyện mình  đêm mùa đông rất đắng/ lam lũ những cuộc đời hằn vết bánh xe” (Phố huyện). Về quê, người làm thơ cúi xuống nhìn đất đai nơi nuôi mình khôn lớn: “Về quê đi em mà rõ hình hài /mà hoang sơ một tình yêu mặt đất/mà buồn tênh một gương mặt thật/ một bàn chân tõe ngón ruộng đồng…” (Về quê).
Nhớ nhung của đứa con xa nhà, khi nào cũng đắng chát vị chè xanh. Riêng nỗi nhớ tình yêu lại tràn ra  mắt ướt: “Mắt em ướt suốt cả thời con gái/khi anh đi em thành loài hoa dại”. Ở một lúc khác, tình yêu làm chị không “sắp xếp nổi mình”: “Em yêu anh không cần nhớ ra mình nữa/ngay cả tiếng cười cũng vỡ vào anh”.  Tôi ngạc nhiên khi trong “Bài ca về người đàn bà” Bình Nguyên Trang viết:  “Mẹ sẽ tập cho con cách bảo hành cuộc sống”. Đời người- mỗi chúng ta chỉ bảo hành được những  hiện vật như đồng hồ, máy tính, ti vi …, duy chỉ có trái tim người mẹ là có thể dạy con “cách bảo  hành” cuộc sống. Cách bảo hành ấy có ý nghĩa ra sao, tùy thuộc vào chính tình yêu và trái tim người đàn bà, người mẹ ở cõi nhân gian này. Ở một “đối  diện” khác, trong bài “Soi gương”, chị lại nhìn:  “Thấy đằng sau mình còn trái tim mười bảy/thấy phía trước mình một câu hát bay đi”. (Soi gương). Soi gương để nhận diện mình, và quan trọng là để thể hiện một “chính kiến”:  phủ nhận chiếc gương hay là để chiếc gương lừa dối mình.
Nhan sắc có thể là một tài sản của người phụ nữ độ tuổi thanh xuân. Tuy nhiên, thời gian hóa thạch thì nỗi lo âu tuổi già ập đến. Nhìn trực diện hay tự lừa dối mình, chia sẻ với gương, chia sẻ với son phấn, câu hỏi ấy, tâm trạng ấy rất đàn bà, rất nữ nhi. Dù là nhìn màu son của  thiếu phụ “Nghe trong hư vô lời trối trăng của lá/nhạt dần những vết son tươi” (Người đàn bà trên toa tàu trễ giờ) hay đôi mắt lặng im của người mẹ Tây Nguyên, Bình Nguyên Trang đều có một cảm nhận rất riêng về thân phận đàn bà. Lối cảm của  một tâm hồn giàu tính nữ mới có thể viết  câu thơ này: “Nơi bầu vú của triệu ngày đã cũ/nở bao nhiêu gương mặt hoa quỳ”(Bà mẹ Tây Nguyên).
Có một lần quay về chùa Hương Tích, người làm thơ Bình Nguyên Trang không xin gì Đức Phật, thánh Mẫu cả. Không xin gì vì chị đã ngộ: “Không cầu xin Đức Phật/trên xứ hoa mơ này/em đây và anh đấy/tay đang nằm trong tay” (Ở chùa Hương). Sự thản nhiên ấy khiến ta nghĩ, dường như nhà thơ đã nhìn thấy bông hoa tình yêu nở giữa đời.
Ở trong nhiều bài thơ tỏ rõ sự chắc tay trong nghề của mình, Bình Nguyên Trang luôn cúi xuống phận mỏng người tài, bài thơ viết về nghệ nhân hát xẩm HàThị Cầu thật hay. “Từ những ngón tay gầy guộc/từ đôi bàn chân tõe ngón/từ nơi nào mưa sa xuống/trên thân cây nhị mơ hồ”... Và “thuộc” người nghệ nhân già như “thuộc” mẹ của ta vậy. Bình Nguyên Trang đặc tả lý  lịch bà Cầu giản đơn mà xúc tích: “Con thì đem gửi cho người/chồng xa cách mười tấc đất/còn lại ưu phiền chất ngất”. Phận đàn bà, lại là đàn bà hát rong, có biết bao nỗi niềm làm ta rơi lệ, và nhà thơ thì chỉ biết ngầm chia sẻ: “Đàn bà như thế thì thôi/ rượu uống vào say lại tỉnh” (Một giọt huê tình)... Sau những lời xẩm xoan kia, là giông bão, là mưa gió, là “bơ vơ mấy nẻo đất trời” mà Bình Nguyên Trang cảm nhận được…Đọc bài thơ này, tôi không chỉ thấy Bình Nguyên Trang nhìn ra “một giọt huê tình”, mà giọt giọt huê tình trong đời bà Cầu hát xẩm, những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thập kỷ thứ nhất của thế kỷ 21 này. Không mấy ai thấu  nông nỗi bà Cầu, hay chính là thấu nông nỗi cô độc của đàn bà viết hoa  như chị!.
Ở chùa Hương Tích không thấy Bình Nguyên Trang cầu xin gì, nhưng giờ đứng đối diện với bà Cầu nghèo khó, hát hay như dứt thịt da, thì Trang “xin hai hàng nước mắt/ đừng như mưa trong chiều này”... Phải quay quắt trong dằn vặt má hồng lắm nhà thơ mới viết như vậy. Đặt sự  mềm yếu cô liêu vào nước mắt, xin xỏ nước mắt  từ tim  mình đừng tứa ra như mưa, tâm trạng ấy chỉ có chiều nắng vàng trước hiên nhà bà Cầu biết, chỉ có đất Nam Định biết. Và có thể ngay cả bà Cầu cũng không hay đời mình có thơ người viết tặng.  Nhưng riêng nỗi đau thương cảm của một nhà thơ với số phận người đàn bà là mãi còn nghẹn ngào. Nỗi đau này, tôi trộm nghĩ, là hệ số nhân cho nhân dân cần lao. Và dường như, đó cũng chính là điểm tựa cuối cùng của  người viết hóa thân vào thi ca.
Cùng một cách nhìn nỗi đau chìm đi, nhưng khác biệt -trong một “triển lãm hạnh phúc” được sắp đặt, được diễn để mọi người  chiêm ngưỡng, Bình Nguyên Trang lại nhìn thân phận người đàn bà với một tâm thức khác. Bài thơ  “Trong triển lãm có tên Hạnh Phúc” là một bài thơ hay, bố cục chặt, tứ thơ dấu kín, thể hiện một tâm thức nổi loạn rất lặng im, rất khốc liệt, và cũng rất đàn bà trong cá tính thơ Bình Nguyên Trang: “Chị đập vỡ chiếc khung/ trượt khỏi giấc- mơ –treo- tường/ căn phòng lã chã/vết bàn chân lội qua giông gió”. Nỗi đau được nhìn nghiêng rồi được thả lên trời: “Ôi khuôn mặt nhìn nghiêng/như không ngừng dấu hỏi/ Người đàn bà đứng trong triển lãm/ Phơi bày một niềm vui/ mà nỗi buồn đã bảo tàng/ vĩnh viễn” (Trong triển lãm có tên Hạnh Phúc).
Không có gì mới, khi người từng trải hiểu rất rõ hạnh phúc là  mong manh dễ vỡ. Còn Bình Nguyên Trang lại nhìn nhận nỗi  buồn, trong chính mỗi  bảo- tàng- lịch- sử -đời -người. Chỉ có người phụ nữ đã từng, đã dám, đã biết đi qua đau khổ, vật vã mới nhìn ra được góc khuất này. Bài thơ cũng có góc khuất, góc sáng. Nó gieo vào ta câu hỏi : Liệu hạnh phúc có thật không, trên cõi nhân gian này? Và câu trả lời là, hạnh phúc có hay không nằm trong chính sự tìm kiếm của người cầm bút, tìm kiếm sự sáng tạo tứ thơ, những bài thơ ngắn không vần.
Đọc Bình Nguyên Trang khó có thể gặp một bài thơ lục bát, một câu thơ phiêu lãng.  Đọc chị  như đi trên đường gập ghềnh, khi dốc đèo Sa Pa, khi nghe hát xẩm ở nhà bà Cầu ở Ninh Bình đầy ắp vựa lúa, bụng no mà vẫn nghẹn ngào. Đọc Trang có lúc chợt giật mình, nhớ ra ,ta đang ở trong nhà ta, nhưng ta cũng đang ở trọ trong cõi tạm nhân gian này. Không khác kẻ vô gia cư là bao, rồi ta thấm bao  nỗi niềm cơ cực của người nông dân trên cánh đồng, bao kẻ đói cơm rách áo như ta. Và  hiểu ra  rằng trong ngờm ngợp bon chen của đời sống phù du này, muốn có thơ hay, ngay cả người cầm bút cũng cần phải biết tĩnh tâm lại: “Một ngày qua trầm tích một ngày”.
Thơ Bình Nguyên Trang đã đi qua thời gian để “trầm tích” trong nỗi niềm  của chính người cầm bút, và của độc giả. Chị còn trẻ, còn thời gian  để đi, để phát hiện, để viết, và quan trọng là để vượt lên nỗi buồn riêng, khi đã chọn đứng trong ngôi Đền lớn – đó là hạnh phúc của nhân dân, đau khổ của nhân dân. Ngay cả nỗi buồn nhân loại cũng đã từng được thử thách trước thời gian và gió bão. Rồi ngay cả trong gió bão, con người vẫn luôn tính đến sự vượt lên. Thơ hay cũng cần vượt lên mình. Thơ Bình Nguyên Trang, tất nhiên, rất cần vượt- qua- mình. Không dễ- nhưng với những gì tôi đã đọc, đã thấy trên tóc mây, trên bờ vai  trẻ của chị- mà tuổi trẻ thì có thể làm được những  điều kỳ diệu, nhất là với thơ ca và sự sẻ chia- tôi có quyền hy vọng ở chị. Những người đàn bà cầm bút!
.
Hoàng Việt Hằng
Lethieunhon.com

Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2012

THƠ NGUYỄN NGUYÊN BẢY




THƠ KINH THÀNH CỔ TÍCH

NGUYỄN NGUYÊN BẢY

NƠI ẤY

Nơi ấy các cô gái đều là tiên nữ
Áo quần mớ bẩy mớ ba
Yêu nhau bắc cầu giải yếm

Nơi ấy cốm Vòng gói lá sen xanh
Chuối đổ mầu trứng cuốc
Heo may thu vào từ năm cửa ô

Nơi ấy
Tôi là đứa trẻ đẻ rơi
Mẹ trảy hội trên cầu giải yếm
Các bà tiên chuyền tay nhau bú mớm
Chuyền tay nhau hát hò
Chày Yên Thái tôi nghe
Trái bàng rơi tôi nhặt
Gạo làng Gióng tôi ăn
Sông Cái lắm thủy thần
Rằm Mồng Một dâng hoa chùa Bộc

Nơi ấy
Các bà tiên dạy tôi biết khóc
Các bà tiên dạy tôi biết cười
Các bà tiên cho tôi giấy bút
Dạy tôi vẽ lên trời hình Rồng thăng
Dạy tôi chép chữ thành vần
Dạy tôi làm chồng làm vợ
Năm ấy sấm Trạng Trình ran nổ
Trời thật nhiều đạn bom

Nơi ấy lẽ Càn Khôn
Các bà tiên lần lượt về mây trắng
Con đưa mẹ đến đầu cầu giải yếm
Mẹ trắng vào mây
Mẹ thăng vào gió
Mẹ đi trảy hội Tiên Rồng

Nơi ấy
Đào Nhật Tân nở chấn Cửa Đông
Áo trấn thủ phủ rêu Cửa Bắc
Kèn tầu hừng hực Cửa Nam
Quốc ca hát đỏ sông Hồng
Nơi ấy là Kinh Thành Cố Tích
Nơi ấy là đời tôi.
.

TỰ HỌA TUỔI THƠ

Chưa cười đã thấy răng
Mà lại hay cười
Chưa nhìn đã thấy mắt
Gằm gằm nỗi gì sau đít chai ?

Đêm ngủ gối đầu chữ nghĩa
Mớ ngày thành một xướng ca
Cô giáo phạt tội ngơ ngơ
Sáng sáng tới sân trường quét lá
Cô ơi tội mẹ em quá
Giọt khóc lau khô còn ngấn lệ buồn

Bạn bè đùa gọi chàng Trương
Ai chịu làm nàng Mỵ ?
Thơ tình học trò vì thế
Bẩy sắc cầu vồng em
Mắt nhìn đâu cũng Mỵ Nương
Xanh mướt cỏ triền đê sông Cái

Nhớ ngày tuổi thơ xa mãi
Sân trường háo hức chim bay
Trương Chi hát lời giã bạn
Mỵ rút khăn tay
Cô giáo rút khăn tay
Bạn bè ủ tình vạt áo
Tình đầy ngực
Âm thanh đầy sông
Sông đầy thuyền
Có một con thuyền Trương Chi...

.
 
BÁI TÌNH


Hai cha con ngồi dưới gốc đa Chèm
Con nhặt lá đa cha dạy làm ngựa
Lá đa cha thổi làm kèn
Cha bảo ai trèo lên được ngọn đa
Kèn là đa sẽ vang rền kèn trận
Ngựa lá đa sẽ hóa ngựa thần
Bay lên non cổ tích bái tình...
Thần dạy trai làng trồng lúa
Nương dạy thôn nữ tầm tang
Tình dạy chung tình
Sức mạnh tình cổ nhất
Xác thân hóa thổ thành đê
Ngăn cuồng thủy tặc
Linh thiêng non Tản tình về

Lung linh cổ tích đêm mơ
Lưng đa còng xuống
Cha công kênh con trèo lên ngựa lá đa
Ngựa bay vút ngọn
Kèn lá đa cha thổi vang trời
Gọi bao la cổ tích
Cổ tích ở trong cổ tích
Dọc suốt triền sông Cái sông Con
Đê như yếm thắm
Ngực đôi bờ xanh lúa xanh ngô
Kèn là đa ơi kèn lá đa
Ngày xưa cha thổI
Bây giờ môi con

.

KÝ ỨC CA DAO


Trưa nao sân nắng chang chang
Cò ngoại chân trần trang thóc
Nắng quấn váy cò
Ngoại ngã
Cháu nâng
Ngoại mắng ca dao
Một đời gánh nắng không chao
Nay lưng mới võng nỡ nào nắng nghiêng?

Trưa nao cò đậu cành mềm
Móm mém cối trầu nhìn thương dì Út
Dì Út về nhà chồng
Ca dao gà
Ngoại ngả lá chanh
Ca dao cau
Bổ cỗ
Lá chanh ngoại hát canh cần
Ngoại tiện cau rồng
Ngoại têm trầu phượng
Tĩnh lòng ngoại vấn nhiễu khăn
Cắn cắn tóc đuôi gà dì Út khóc
Ngoại ơi sao mừng lạI khóc ?
Ngoại cười ca dao
Cái cò lặn lội bờ ao
Lặn từ bờ mẹ lội vào bờ con...

Ca dao ngoại hát vui buồn
Lời lời cháu nghe thuộc hết
Nhưng không sao bắt chước được bà
Lúc mắng ca dao
Lúc hát ca dao
Ca dao nao lòng
Này cò này vạc này nông
Không sống tử tế đừng mong thành người.


.
thơ nguyễn nguyên bảy
NXB Văn Học 2010

Thử mở một cánh cửa vào thế giới thơ Nguyễn Nguyên Bảy

 Nguyễn Anh Tuấn



Trong một bài thơ, NNB hé lộ cho người đọc thơ biết lai lịch đời anh cùng xuất xứ những vần thơ đầu tiên của anh:
Nơi ấy, các cô gái đều là tiên nữ
Áo quần mớ bẩy, mớ ba
Yêu nhau bắc cầu giải yếm
…Nơi ấy các bà tiên dạy tôi biết khóc Các bà tiên dạy tôi biết cười
…Nơi ấy là kinh thành cổ tích
Nơi ấy là đời tôi…
Và trong một bài viết ở trang mạng Nguyennguyenbay.com, chúng ta đọc được những dòng sau:
“Tôi là một nghiệp dư thơ. Một nghiệp dư say mê thơ điên cuồng, chép chép ghi ghi và chôn ghi ghi chép chép ấy vào mộ huyệt của im lặng, chỉ thỉnh thoảng, không cưỡng nổi điên khùng, nửa đêm thức giấc, ngửa mặt nhìn trời đọc thơ gửi mây, tặng gió.”
Nhưng, những dòng tự bạch bằng thơ đầy thi vị lẫn trần trụi văn xuôi trên chỉ giúp ta có thêm mối đồng cảm ban đầu khi đọc thơ NNB, chứ tuyệt nhiên không giúp ta mở thêm một cánh cửa để dễ dàng bước vào thế giới thơ anh! ( Xin được dùng lại khái niệm ”Thế giới thơ” mà GS Hoàng Như Mai đã viết về thơ NNB).
1. Ta có cảm tưởng, thơ NNB giống như một cuốn kinh đồ sộ tập hợp biết bao suy tưởng cảm nhận của người thơ về đời sống, về cội nguồn của đời sống và của thi ca… Song cuốn kinh ấy lại tựa ma trận của lòng người mà bản thân người làm thơ cũng phải thấy ngợp, đôi lúc có cảm giác chết chìm, có điều đã luôn phải vùng quẫy để thoát ra khỏi cơn lũ ngôn từ và ấn tượng để quan sát, để chiêm nghiệm; và trong khi quan sát chiêm nghiệm đời sống thì quan sát chiêm nghiệm ngay chính những ấn tượng, những kinh nghiệm sống cùng quan niệm xử thế của mình, để rồi từ đó, “Thơ đã ra đời như những liều thuốc giải độc trí tuệ, vì nếu thơ không được sinh ra hẳn tôi đã mắc chứng điên và bị buộc phải vào nhà thương Thường Tín. Thơ đã ra đời như một thách đố tôi, một tự tôn tôi, một khẳng định tôi, một kiêu hãnh tôi đối nghịch với mời gọi của cơm áo và danh giá…”- như chính tác giả tự bạch. Như vậy đối với NNB, làm thơ chính là một cách ứng xử chủ yếu với đời, một cách bảo vệ phẩm giá đặc biệt, một vũ khí hữu hiệu chống lại sự đểu giả, là một lý do và một phương thức chính để tồn tại…
Nhưng trong khi “tìm cho mình một con đường khác, lầm lũi riêng mình, lầm lũi yêu thơ”, NNB hầu như không bao giờ hoàn toàn hòa nhập vào cảnh ngộ, mà anh thường có góc riêng kín đáo nhìn đời, nhìn chính thân thế và tâm trạng của mình để phát hiện ra các thi tứ và “tụng” thành thơ sau khi đã âm thầm vượt qua bao nỗi buồn đau cay đắng. Thơ NNB làm ta liên tưởng tới hệ thống sân khấu của Bertolt Brecht- các diễn viên ra sàn diễn cho người xem biết mình sẽ đóng vai gì trong vở, sẽ trình bày vấn đề gì ( trái ngược với hẳn hệ thống sân khấu của Stanilavski ngay từ đầu đã cuốn người xem vào ảo giác, đồng nhất diễn viên và nhân vật ); điều này chẳng xa lạ với nguyên lý mỹ học của sân khấu dân gian VN ( như chèo) mà một trong những cốt lõi của nó là cách điệu hóa và xa lạ hóa – “Ta ra đây có phải xưng danh không nhỉ?”… Sau khi đã tạm thời “hóa thân” vào nàng Kiều và các nhân vật của Truyện Kiều, vào Từ Thức, vào các bà Tiên, vào Sông Cái, vào Kinh thành Cổ tích, vào Thánh Thơ,… nhà thơ dần lùi xa khỏi những nhân vật tưởng tượng để bắt đầu miêu tả, dựng lên thế giới tinh thần của họ – bằng cách đó mở rộng đến gần như là vô hạn biên độ của xúc cảm và tư duy nhận thức cho bản thân sau đó là cho người đọc.
Sau khi đã “khách quan hóa” nhân vật trong tưởng tượng, NNB làm công việc khảo sát, đánh giá về thân phận, phẩm cách… của nhân vật đó và đồng thời cũng tự bộc lộ thân phận cùng phẩm cách của chính người thơ. Thường là, từ một nguyên cớ, một biểu tượng giàu sức thuyết phục hay đã từng quen thuộc trong đời sống lịch sử- văn hóa dân tộc, sau khi đã làm giàu có thêm cho biểu tượng bằng nội lực văn hóa thẳm sâu và thăng hoa nó bằng xúc cảm thơ tràn trề, anh quay trở lại đào sâu mãi vào chính nội tâm đang ngổn ngang ( thậm chí có thể còn đang hoang mang nữa) của mình như đã tìm được chỗ dựa, đã tìm được vỉa mạch, và chính tại những chỗ này, khi “Anh bật khóc thành tiếng/ Nước mắt tràn đê” , thơ anh thường lóe sáng một cách thực bất ngờ, khiến người đọc rung động ngây ngất… NNB thường đem cả trải nghiệm đời mình làm chỗ dựa, làm sự tham chiếu cho từng câu thơ một! Và phải chăng điều này cũng đã góp phần quan trọng khiến thơ NNB trở nên vô cùng phong phú- phong phú đến rậm rịt làm người đọc như lạc vào mê hồn trận của chữ nghĩa phập phồng cảm xúc của tác giả nhưng vẫn được tác giả kéo riêng ra một chỗ để suy ngẫm về nhân tình thế thái… ( Tiêu biểu như các bài Từ Thức bơ vơ, Sông cái mỉm cười, Ô cửa vuông trăng, Âm dương, Gia phả, v.v.)
Nhưng ngay cả khi viết về ( hay viết cho) một đối tượng gần gũi thân yêu nhất, NNB cũng sử dụng biện pháp tạm gọi là “phân thân” này. Trong bài “Hai ngôi sao không lặn bao giờ”, đoạn đầu nhà thơ bày tỏ tình cảm trực tiếp với vợ: “Anh không nhận ra em/ Một năm có là bao xa cách/ Em ủ đầu anh vào ngực/ Anh không thể nào hỏi được/ Sao tiều tụy thế mình ơi?” Nhưng ngay liền đó, nhà thơ tách ra khỏi quan hệ trực tiếp để quan sát người vợ kỹ càng hơn, thông qua biểu tượng là đôi mắt, và đồng thời quan sát miêu tả chính nỗi xúc động của mình- hơn thế, để khái quát về thân phận của người phụ nữ trên “đường đời nhiều cạm bẫy”: “Chỉ còn đôi mắt/ Đôi mắt chạm chạp u buồn/ Một nốt ruồi đẫm lệ/ Chỉ còn đôi mắt/ Đôi mắt vẫn như ngày nào/ Đôi mắt ngày nào tôi nói yêu em/ Đôi mắt khép nhận lời/ Chỉ còn đôi mắt của vợ tôi/ Toàn thân em như cây thị rũ lá/ Khô cành trước gió ban mai/ Chỉ còn đôi mắt/ Đôi mắt kể tôi nghe/ Lưng ngày nắng quật/ Đêm ngồi bỏng vú nuôi con/ Vai gánh nỗi thương chồng/ Đi xa đường đời nhiều cạm bẫy/ Chỉ còn đôi mắt/ Đôi mắt đổ xiêu.” Tới đoạn 3, đoạn sau cùng, nhà thơ lại trở về vị trí trong đoạn thơ đầu, trực tiếp tâm tình với vợ ; nhưng ở đây, đôi mắt đã được tách ra thành đối tượng thẩm mỹ riêng biệt đối với cả hai người, và đó chính là một sự “phân thân” cấp số nhân khiến cảm xúc được dồn nén nghẹn ngào suốt từ đầu bài thơ đến cuối cùng chợt vỡ òa: “Anh ôm đôi mắt ấy/ Bỗng òa đôi mắt khóc/ Tình rụa ràn mặt anh/ Đôi mắt u hoài trong vắt/ Đôi mắt ấy chính là hai ngôi sao trên trời/ Đêm đêm nhìn anh/ Thức với anh/ Đi cùng anh/ Hai ngôi sao không lặn bao giờ.” Thương cảm nhưng không chìm ngập trong nó mà để đúc rút ra được biểu tượng của Cái Đẹp và Tình Thương! Đây có thể nói là một trong những bài thơ hay nhất, tiêu biểu cho phong cách NNB (tạm gọi thế); và nếu tôi có trách nhiệm trong Ban tu thư soạn SGK, tôi sẽ đưa ngay bài này vào chương trình văn học bậc phổ thông trung học!
Nhìn chung, ở thơ NNB, các yếu tố tự sự ( narrative) và trữ tình ( lyric) hòa quyện khó phân biệt – trong tự sự đã thổn thức trữ tình và khi trữ tình lại đậm đặc tự sự – đó là một thứ tự sự giống thể văn kệ của văn học Phật giáo song lại giàu trực cảm. Sự trang trải thi hứng đến ào ạt không ngăn cản NNB thường cô đúc câu của thơ mình vào một hình thức ngắn gọn, mộc mạc như lời nói thường ngày song có sức nặng triết lý như châm ngôn, tục ngữ và gửi gắm được suy tư thâm trầm của một ” thầy phù thủy” chữ nghĩa.( “Có đường bởi có bước chân/ Có ngã ba bởi đời cần tìm nhau” – “Xin đừng hỏi anh vì sao/ Viết hoài chuyện tình hai đứa/ Anh còn gì khác tặng em” – “Em đã trả lại anh cho đời/ Đã trả lại dòng thơ thủ thỉ cho yêu/ Cái chết bỗng trở thành hèn nhát” – v.v. )
2. Ngay từ những bài thơ đầu tiên của mình, NNB dường như đã có xu hướng huyền thoại hóa những hình ảnh, những chi tiết thơ, những quan sát cùng nhiều thi liệu khác đã trở nên quen thuộc thậm chí mòn sáo nhưng khi nhìn qua “Gằm gằm nỗi gì sau đít chai” cộng với một tình thương trĩu nặng thường trực thì “ngựa lá đa sẽ hóa ngựa thần”… Xu hướng tinh thần và dần biến thành quan niệm sáng tác vững bền này khiến người thơ thỏa sức chìm trong “Ký ức ca dao”, trong “lung linh cổ tích đêm mơ” và biết bao biểu tượng của văn hóa dân tộc gần gũi với mỗi người dân Việt từ thở ấu thơ cho đến khi từ giã cõi đời- dù ở bất cứ nơi nào trên trái đất. Thơ NNB, từ thời xa lắm cho tới gần đây nhất, hầu như chỗ nào cũng ướt lệ và thầm thì âm hưởng những lời ru nao lòng “rợp từng đàn cò trắng” hay “âm âm lời Chinh phụ lời Kiều” … Nhà thơ đi trên “một con thuyền Trương Chi“ suốt từ thời tráng niên cho tới ngày lên lão mà chưa hề thấy mệt mỏi, chán nản, ngược lại dường như càng đắm say thêm những gì được thấy được nghe trên con thuyền ấy- kể cả tiếng hát cô đơn xa xót của chính mình… Lắng sâu vào cuộc đời dân tộc, đúng hơn là vào hành trình đau khổ của dân tộc- bằng phương tiện khi là lục bát, lục bát biến thể, khi bằng thơ không vần, thơ văn xuôi- nhà thơ bằng cách đó làm giàu có cho tinh thần mình, để trước hết dạy dỗ các con thông qua những “Bài ru trằn trọc” về những lẽ đời nghiêm trang cảm động- và bài học quan trọng nhất là tình thương, lòng trắc ẩn- cái điều đang thiếu trầm trọng trong hệ thống giáo dục của ta! Tôi bỗng nhớ đến Châm ngôn thứ hai trong việc giáo dục học trò ở một tác phẩm lớn của J.J. Rousseau chính là câu thơ Latin của thi hào Virgile: “Tôi biết điều bất hạnh, chính nó dạy tôi cứu giúp những người đau khổ”. (1) NNB bơi lội hít thở trong cái “trường” văn hóa dân tộc đậm đà tình nhân ái của ông cha từ thở thơ ấu, từ buổi “lần đầu tiên thấy mình lòng tôi chiêng trống”, mà đối với anh dù đi suốt cuộc đời “vẫn là mới sáng hôm qua”… Nhưng không phải nhà thơ vay mượn những hình ảnh ấy, vay mượn những biểu tượng và sự thụ cảm dân gian ấy, mà chúng thực sự là máu thịt của anh, nảy sinh từ trong huyết quản và từ tận tế vi tiềm thức, chúng được chứng thực bằng nỗi đau riêng và nỗi đau chung của anh!… Lắng nghe một cách chăm chú chật vật, giao tiếp một cách đau đớn, đối thoại một cách vật vã, để rồi sau đó nhà thơ chỉ làm cái việc là vội vàng run rẩy ghi lại một cách chân thật những gì mà tiềm thức nói, những gì mà chàng Từ Thức tâm sự, những gì mà Thánh Thơ Cao Bá Quát dạy bảo, những gì mà nàng Kiều thổn thức, những gì mà bà Tiên phán truyền, những gì mà người cha trăng trối… Sự thống nhất khá bền vững của hệ thống thi liệu và cách thụ cảm dẫn tới nghệ thuật biểu hiện rất nhạy cảm với nỗi khổ đau này, theo tôi là một nét đặc sắc riêng biệt khó trộn lẫn với bất kỳ ai của thơ NNB, lý giải phần nào sức cuốn hút gần như huyền bí của thơ anh ( mà nếu là các nhà phê bình chuyên nghiệp sẽ đưa ra lý luận về thi pháp để soi rọi, phân tích, còn một kẻ tay ngang như tôi thì không dám lạm bàn.)
3. Tạm kết.

Trong một tập sách đối thoại về thơ rất thú vị mới đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Tùng có dẫn câu nói của nhà thơ Wiliam Carlos Wiliams: “Khó mà có thể tìm ra các tin tức trong thơ, thế nhưng hàng ngày, con người vẫn chết thê thảm vì họ thiếu những điều chỉ tìm thấy trong thơ.” (2) “Những điều chỉ tìm thấy trong thơ” đó- dĩ nhiên phải là thơ thứ thiệt- chúng ta có thể tìm thấy trong từng dòng, từng trang thơ NNB mà ở đó anh đã thành thật đến não lòng kể lại: “Thơ tôi đã ra đời trong tiếng gõ cửa dồn gấp, trong những lời kêu thét bệnh hoạn, trong đói nghèo muốn cuốn đời vào hèn hạ, nhưng nó vẫn kiêu hãnh khóc như trẻ sơ sinh, trên cái bàn chí đứng ba chân (một chân đã mọt gãy), với một gía sách, trong căn nhà lá 8 mét vuông, lợp giấy dầu, cạnh chuồng tiêu, ao bèo, bè bạn với côn trùng và muỗi đói…” Và đây nữa: “Những dòng thủng thẳng này được viết ra trong đói nghèo không thể tả bằng ngôn ngữ và trong những khủng hoảng tinh thân triền miên, vô lý. Nhưng lòng vẫn cố không rời phao thơ để nâng xác, cứu hồn… nếu như bạn biết tôi đã phải sống trong hoàn cảnh nào, về thân xác tôi bị đói rét hành hạ, về tình thần tôi bị ruồng bỏ và canh gác sát sao. Tôi đã chép những chán nản ấy, những thất vọng ấy, những cay đắng ấy vào thơ. Và hân hoan thay, thơ trả lại cho tôi những dòng chữ nghĩa như khí cho tôi thở, như lửa cho tôi chế biến thức ăn, như sông suối cho tôi tắm mát. Đó là đức tin phải có, đức tin phải sáng rạng trong tâm hồn…”
Thưa Bạn yêu quý thơ NNB, hãy thử, với một cánh cửa tạm mở như trên mà bắt đầu ( hay thêm một lần nữa) bước vào thế giới thơ NNB, và trước hết hãy đọc nó như đọc một tập kinh cầu nguyện khi ta có Đức tin về Thơ, về Tình thương và Ân nghĩa trong Cõi Đời còn nhiều gian truân và ngang trái này…
Hà Nội, đêm Nguyên tiêu – Tân Mão
Nguyễn Anh Tuấn ( Đạo diễn điện ảnh)

THƠ DUY BẰNG



   
CHÙM THƠ CỦA DUY BẰNG


MẮC NỢ CÔ ĐƠN

Chỗ đông người là nơi cô đơn
Khi một mình lang thang tìm đến
Tiễn vết buồn thu gom ngày nắng hạn
Lại nhận về dấu lặng mưa rơi
Chỗ đông người là nơi đơn côi
Lấp khoảng trống trong cung đàn lạc điệu
Những nụ cười nhòe trên vai áo
Cơn đau thầm rao bán chẳng ai mua
Lúc chia tay câu hát sang mùa
Chén rượu thơm tho
Soi bóng người đi
In dấu người ở lại
Nắm tay nhau giăng buồn ngày xa ngái
Trong cách chia ngồi đếm lặng một mình
Kết bạn cô đơn
Đám cưới xập xình
Hạnh phúc là gì tìm câu chân lý
Giải mã cuộc đời
Buồn vui thế kỷ
Duyên phận hẹp hòi khép cạn con tim
Và nhà thơ yêu nhiều
Lại mắc nợ cô đơn


 GIÓ NĂM MÙA

Reo vui
Gió xuân đâm chồi nẩy lộc
Những mảnh vườn vàng ươm đốm cúc
Họa mi nhốt lồng
Vẫn hót véo von
Gió mùa hạ
Thổi giấc ngủ buồn
Khi nắng trưa mặt trời thắp lửa
Cây bên đường lao xao nghiêng ngã
Mong mưa chiều chiếc lá rưng rưng
Gió thu
Cốm mới hương lành
Hoa sứ thơm tóc em bối rối
Và bâng khuâng ai về lạc lối
Nợ, đau thầm
Trong phút thu chia
Gió co ro thổi lạnh đông về
Dây dưa mưa phùn
Chiều nay không tạnh
Có người mẹ
Nắng mưa khi tuổi đời sóng sánh
Cô thiếu phụ bên đường
Mang chiếc áo cô đơn
Còn gió mùa em lòng ta bão tố


ƯỚT ĐÊM TRĂNG

Tôi về Hà Nội
Mới đầu đông
Cái lạnh
Phơ phơ vín tóc bồng
Đổi gió thay mùa
Lay cửa động
Bên đường
Đám cưới kết xe bông
Tôi về Hà Nội
Mãi tìm em
Nhớ mùa sấu rụng
Nhớ hàng kem
Cổ Ngư lạnh guốc
Đường soi bóng
Lạc giữa đô thành
Lắm đua chen
Hà Nội bây giờ
Mùa cũng lẳng
Chuồn ngô
Núp gió đậu bờ ao
Tây Hồ
Bóng ngã nghiêng màu mận
Liễu rủ buông chiều
Nước xanh xao
Hà Nội tôi về
Chạm gió đông
Bóng ai lạc phố
Áo ai hồng
Đường xa
Lạ bước mình tôi lặng
Sương gầy
Mang lạnh ướt đêm trăng

.
Thơ Duy Bằng
trannhuong.com



















DƯƠNG TAM KHA sớm khuya một bóng gói lời nhớ thương



NGUYỄN YÊN THẾ


Cứ lâu lâu không lên Sơn La là tôi lại thấy nhớ nhung, bồn chồn. Mảnh đất ấy đã gắn bó với tuổi trẻ khốn khó của tôi - một anh giáo nghèo, nhưng cũng là nơi đã cho tôi cả một mạch nguồn thơ phong phú dường vô tận...Và nơi ấy, ngoài các thế hệ học trò đáng yêu đã trưởng thành vẫn một mực quý mến thầy, cùng những đồng nghiệp cũ đáng kính trọng, tôi còn có một sự gắn bó đặc biệt với một người bạn từng dạy văn cùng trường, cùng sinh hoạt giáo viên tập thể, cùng mang "trọng bệnh" yêu thơ. Đó là Dương Tam Kha.
Trùng tên với một vị vua cướp ngai vàng cách đây 10 thế kỷ, song Dương Tam Kha lại không có một chút đam mê chính trị nào; anh chỉ say thơ đến độ mê mẩn. Lần nào lên Sơn La, tôi cũng phải cố gắng vào thăm căn phòng bụi bậm đầy sách vở và sặc mùi thuốc lào nằm giữa một khu vườn lớn rậm rịt, để được anh "tra tấn" bằng hàng tập bản thảo thơ dày cộp, bởi tôi đã trót ghim vào tâm tưởng những câu thơ như thế này của một anh chàng được hàng xóm mệnh danh là "thi sĩ hâm":
Có em phải em là nàng tiên đến từ cõi Phật
Hay là chúng sinh mong cứu khổ giải oan?
Nhặt chiếc lá khô viết lên câu thơ
Thương giọt sương đêm lệ rưng đáy mắt.

Lần nào chia tay nhau, anh cũng đưa tôi ra bên đường Chu Văn Thịnh đón xe vét khách từ huyện Mường La (nơi có công trình thủy điện Sơn La) về Hà Nội; và lần nào cũng thế, chúng tôi đều thấy bâng khuâng, không nỡ rời nhau. Trong bài Tiễn Bạn, anh đã kể lại cảm xúc ấy:
...Người về thui thủi mình tôi
Sớm khuya một bóng gói lời nhớ thương...

Tôi hiểu nỗi niềm của anh, người đang tìm cách tránh xa những tục lụy của đời sau bao năm tháng vẫy vùng kiếm sống đến tuyệt vọng - bỏ nghề dạy học đi đào vàng, làm thợ mộc thợ nề, nuôi cây cảnh..., để rồi lắm khi nhìn lại mơ ước xưa với không ít bẽ bàng, chua xót:
Bơ vơ chiều nay, tôi trở lại
Một mình hoang vắng với trời không ...
...Em nơi đâu? Tôi bơ vơ chiều nay.

Hồi mới lên Tây Bắc, chúng tôi, những chàng trai trẻ tuổi ngoài đôi mươi tràn đầy hào hứng và mơ mộng:
Nơi đây không có thời gian
Tôi như con bướm say ngàn bông hoa
Xứ ngàn xanh yêu quý
Hát ngàn lời đâu hết được hồn ta
Mỗi ngày trôi qua muôn sắc rừng già

Thực tế phũ phàng của đời sống khiến không hiếm lúc Dòng thơ trào theo dòng nước mắt, song không thể cướp đi thi hứng của kẻ luôn cảm thấy: Hoa ban, hoa đào rưng rưng nước mắt người xưa, của một người tự nhận: Ta gửi lại mảnh hồn với rừng với suối... Dương Tam Kha có nhiều bài thơ câu thơ hay viết về Tây Bắc, như đó chính là nơi chôn rau cắt rốn và anh từng lớn lên bằng lời ăn tiếng nói của đồng bào miền núi vậy:
Đây quê hương tôi:
Hoa ban chạy đi tìm bạn nhớ
Hoa pặc piền thăm hỏi bạn thương
Trắng bay hoa gạo thắp sao ráng chiều

( Quê mới)
Có những cánh rừng nguyên sinh ven sông Đà
Quanh năm sương mờ giăng đỉnh núi
Có con thuyền độc mộc và thiếu nữ mộng mơ
Neo đậu một ngày bên bờ hoa dại
Đêm trăng có tiếng khèn ai dìu dặt
Gieo bước hoang vu trên con đường làng
Bất chợt em sửa lại chiếc piêu hồng
Mùa xuân nở bên dòng suối

(Bất Chợt)
Cành ban đầu khuống em, anh đỡ
Cành bưởi cuối nhà em anh nâng
Bậc cầu thang ngập ngừng từng bước
Tiếng động sàn ngỡ gót em qua

(Đêm ngủ nhà sàn)
Em ngồi miệt mài trong khung cửi
Cánh bướm vờn quanh những đường tơ
Tay ngà đưa nắng trên nhung lụa
Nắng như hoa đậu vườn ban trưa.
Ngôi nhà sàn nghiêng bên sườn núi
Bếp lửa hồng sao biếc vờn quanh

(Khăn piêu)
Cảm xúc tràn đầy và những quan sát kỹ lưỡng tinh tế về thiên nhiên & con người Tây Bắc là cơ sở để anh viết được thiên trường ca Anh hùng Lò Văn Giá  (Nxb Hội nhà văn) hơn 3.000 câu thơ và cũng khá đặc sắc!
Nhiều năm sau, nhìn lại, anh có thể nói với người se duyên kết tóc với mình:
Bao dặm dài anh qua
Mái tóc giờ điểm bạc
Yêu thương một mái nhà
Say tình người xứ lạ

Nơi trập trùng rừng núi miền Tây, anh thường nhớ tới đồng bằng, vùng quê thời mới lớn từng có một Cặp mắt long lanh đánh đuối hồn tôi... Và với hồi ức của người đang sống giữa thiên nhiên Tây Bắc nơi thượng nguồn sông Đà sông Mã, anh đã có những câu thơ viết về quê hương vùng hạ nguồn sông Mã thật thấm thía:
Tôi lớn lên từ một làng quê có một dòng sông
Có gió mặn mòi cơn nồm cơn bấc
Có giọt mồ hôi và rét buốt tê người…

(Sông quê)
Chuông chùa động thinh không
tí tách tiếng mưa vọng lại
Trong sương khói vị sư già chậm rãi
Chiều vội qua mau hoa nở lạnh lùng.
 con rùa già hóa đá
linh hồn oan định nhập cõi thiền...

(Thăm lại làng xưa)
Mưa gõ nhịp tiếng kinh cầu mõ lạnh
Mây núi giăng sương tựa khói lâm tuyền
Hàng trúc đợi vị sư già khổ hạnh
Chậm bước hoàng hôn dâng thắp hương đèn.

Quê hương hiển hiện trong tâm hồn thi sĩ qua những hình ảnh thân thuộc với bao thế hệ, và cũng thật "cổ điển" đối với thi ca:
Nâu sồng, cơm vắt, tương cà
Câu dân ca một thời phiêu dạt…
Gánh cực dồn bước trèo non
Song mây quang đứt, tủi hờn nén thương
Thân cò sớm nắng chiều sương
Hoang hoang lạnh những bãi truông sình lầy
 
Anh viết về người mẹ chốn quê cũ có  Mái tóc trắng màu cánh cò lặn lội  như sau:
Nuôi con cạn bấc dầu hao
Nếp nghèo gia giáo một câu tâm nguyền
Đạo Nho, đạo Phật lưu truyền
Vui hòa nước mắt trải miền gian truân.
 Mẹ dẫu xa vẫn như gần
Trang thơ con lại nối vần ông cha

Những lần lang thang trong chợ phiên ở thị xã, khi mà Mây và trăng anh không thể đem ra nơi chợ phiên, Dương Tam Kha có dịp ngẫm lại ý nghĩa cuộc đời mình:
Bơ vơ đi chợ chiều nay
Không mua chẳng bán mới hay phận mình...
 
Thực ra, anh đã làm đủ thứ việc để mưu sinh, nhưng chẳng việc nào ra hồn, trong khi đó thì  Sách đèn thơ phú quên tháng ngày, thơ vẫn bám theo như một duyên nợ tự kiếp nào:
Rừng sâu núi thẳm xa vợ con
Lên núi tìm vàng vàng chẳng có
Làm thơ khóc đời ta không đặng
Ngày ngày thơ thẩn bên suối vắng
Nhặt hòn cuội trắng ném lên trăng.

Cay đắng thay, kẻ nặng nợ với văn chương làm sao đủ bản lĩnh để đối chất được với sự dè bỉu của những người tỉnh táo:
Ông là nhà thơ hử?
Tôi không có thời giờ
Mưu sinh dày công chuyện
Thơ dành người mộng du!

Nhưng rồi, bởi  thơ từng chữ như hơi sương đọng lại  nên nhà thơ đành chấp nhận cái phận: Còn lưng đôi chữ hong vào đèn đêm, và :
Thương câu lục bát bơ vơ
Tháng ba có một khách thơ bạn cùng...
...Thôi đành một kiếp đa đoan
Giọt cay giọt đắng tìm sang bạn hiền
...Tôi còn nợ trời tròn đất vuông
Đi tìm đôi câu lục bát


Say thơ đến độ, anh đã làm cả một trang Web: "Dương Tam Kha toàn thơ"!
Dương Tam Kha từng tuyên bố rằng, nguồn sống chính của thơ anh không phải là kỷ niệm và vẻ đẹp của hoa lá, mà là nỗi đau khổ của Những người dưới đáy cùng xã hội/Hồn nhập đời ta. Hàng ngày chứng kiến cảnh Chợ Người, anh thương cảm cho những người:
trông chờ đồng tiền rẻ mạt
 Bán mồ hôi, máu và nước mắt
Mặt trời úa vàng, làn da xanh xao.
Có kẻ thở dài ngao ngán
Nói lời có vần:
"Gánh cứt đi đổi rắm!"
  (Tục ngữ của dân tộc Thái)
Nhà thơ đàn anh Vương Trung người Thái đã khen bài thơ này hay, và hiện thực lắm. Mượn một câu tục ngữ địa phương tưởng không có gì là thơ cả, anh đã nói được cái sâu lắng của lòng mình cùng sự thật phũ phàng- và theo tôi, đó cũng là chất thơ chân chính!
    Có biết xót xa thương cảm, anh mới biết căm giận những Bóng đen:
Kẻ ganh ghét tài năng, hận thù văn minh
Chiếm đoạt học vị, chức quyền hèn mạt
Hắn giấu ngang qua hai thế kỷ

      mới biết đồng cảm với những bài thơ thế sự và tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Ngô Văn Phú:
Xa xót cuộc đời, xa xót kiếp người
Người viết sử vạch mặt bầy gian ác
Kẻ xu thời vênh vang đội lốt
Chữ tâm hèn ngồi chiếm ngôi cao.

Một trong những bài thơ hoàn bích hơn cả của Dương Tam Kha là bài Phố núi, viết tại Sa Pa. Nếu ai đó tới đây chỉ thấy vẻ đẹp, sự thi vị, thì thông qua cái nhìn của một anh họa sĩ, nhà thơ đã vẽ lên sự tương phản của hai cảnh sống- giữa chủ nhân của các biệt thự sang trọng, các du khách với những cảnh:
Mẹ dắt đàn con, em lả trên vai chị
Lần lữa tháng ngày hàng rong lưu niệm.
 ...Mấy cụ già đàn hát bản xa
Hai góc chiếu ngồi như tượng đá
...Hàng rào đá ngăn bầy trẻ nhỏ
Lũ trâu gầy gặm cỏ cằn khô.
...Cả bản ngược xuôi lên rừng xuống phố
Đôi mắt dại cháo rau cuối chợ
Bước mỏi mòn u ám chiều mưa.

Nhưng Dương Tam Kha không chỉ biết trữ tình và thốt mỉa mai, căm giận, anh còn biết tự trào- và đó cũng là một khía cạnh riêng khá lý thú của thơ anh. Đây là một bài mới nhất của anh, cho thấy sự trưởng thành của bút pháp cũng như cái nhìn của nhà thơ về cuộc đời:
Chùa nương động núi sương giăng lạnh
Khói nhang đèn mờ Phật hay Tiên?
Phận nghèo lòng thành tâm hương nguyện
Phật cười: "Kiếp trước tôi giống anh!

(Phật cười)
Anh chế riễu Nàng Thơ- tức cũng chế riễu mình chơi:
Nàng thơ... Đích thị là ả đa tình, trái tính, trái nết.
Nàng làm khổ ta phút phút, giờ giờ, đêm đêm, ngày ngày,
tháng tháng, năm năm.
Ta chẳng còn gì mà nàng đâu chịu buông tha
mời nàng về
làm một Manơcanh để nơi cánh cửa
hay bên cạnh ban thờ thêm vui nhà, vui xóm!

Nhưng, anh lại thú thực ngay sau đó:
Cái ta có được giờ đây là mái tóc bông mây
 và ngày ngày nàng thơ hằng gõ cửa


Chắc anh không thể làm gì hơn cái việc: hát đến bao giờ vơi nỗi cô đơn. Và trong cảnh ngộ: Bao niềm tin, hy vọng tan thành mây khói, anh vẫn luôn tâm niệm:
Trang thơ anh dầu ngót nghìn bài
Chưa một lần nỡ phụ tương lai..
.
Giờ đây, anh đã rời Sơn la lên sống với gia đình trên thành phố Lao Cai; anh lại tiếp tục hòa mình vào cuộc sống của đồng bào dân tộc, tiếp tục ngẫm ngợi, làm thơ...Và nhớ bạn thơ. Còn tôi, mỗi lần ngược Sơn La thăm bè bạn, học trò hay làm phim, lại nhớ về cái phòng văn ngập bụi và khói thuốc lào của anh, ngâm nga câu thơ của anh để nói hộ lòng mình:
Người về thui thủi mình tôi
Sớm khuya một bóng gói lời nhớ thương...


 ________________                                                     
* Những câu in nghiêng là thơ của Dương Tam Kha lấy từ các tập thơ: 1.Trăng hai miền (nxb Thanh niên)  2. Hạt sương  3. Hạt muối  4. Khát  5. Hương mùa ( nxb Văn học)

Lethieunhon.com

CÓ NHỮNG NHÀ THƠ NHU THẾ!



CÓ NHỮNG NHÀ THƠ NHU THẾ!
Bùi Văn Bồng

1// NHÀ THƠ “XE ÔM”. Đã 2 năm không có dịp gặp lạI nhà thơ xe ôm Tạ Văn Sỹ. Lý do: Anh cát cứ tít tận Kontum nên ít có dịp về Sì – gòong, trong khi lờI hứa của Tũn (sẽ sớm lên Tây Nguyên gặp anh để thực hiện bài phỏng vấn) vẫn chưa thành hiện thực.
Lần đó, anh đưa bà xã về Saigon chữa bệnh. Khi vợ đã đỡ, anh cùng Tũn và mấy anh em báo chí ngồi lai rai ở quán dê Đệ Tam (Thanh Đa). Anh kể về nghề nghiệp của mình: Một gã đàn ông đen đúa, cọc cạch chạy xe Honda đưa rước ngườI dưng. Thế nhưng, cái gã ăn không đủ no ấy lạI ngày đêm âm thầm đắm đuối với nàng thơ. Và, chắc chắn, kg chỉ những thượng đế đã từng được gã “cõng” thuê mà hầu hết cư dân ở cái thị xã hút heo miền sơn cước Kontum lại nghĩ rằng: Tay xe thồ quê mùa suốt ngày phơi nắng, dầm mưa ở cái góc phố nghèo xơ, nghèo xác kia, dẫu có phép thần cũng không thể có ngày hoá thân thành thi sỹ!? Ấy vậy mà, chuyện đó đã xảy ra… Anh còn kể cho chúng tôi về việc gã xe ôm còm nhom bị “bắt cóc” vào HộI Nhà văn “khốn đốn” như thế nào; việc một mình gã vớI chiếc Cub 78 (chiếc xe cần câu cơm) rách như nắm giẻ, đùm túm lết ra tận Hà thành rồi mò lên Vĩnh Phúc “vi vu, vi vút” ra sao?v.v… Tũn vừa ngồI nghe, vừa ăn và liên tục nhắc anh “Story nhưng kg quên nhiệm vụ (gắp ăn)”! Song, sau mỗI lần như thế, vị thi sỹ xe ôm thô mộc như cây gỗ khô trên đồI chỉ gật gù, cầm đũa khều khuề cho có lệ rồI lạI uống, lạI kể. Nhìn cung cách gắp thưa thớt, dốc (ly) tăng cường và vóc dáng “khiêm tốn” của anh, Tũn lo lắng ít nhiều …
MớI đây, nghe nói anh đã phong độ, "cảI thiện" hơn và còn “dám” ra Hanoi làm sinh viên Trường Viết văn Nguyễn Du (trường này đang có chuyện lùm xùm). Tũn mừng nhưng lạI ngẫm: Đã là nhà thơ rồi, đã thành danh rồI còn cắp sách, cắp siếc tớI trường làm chi ở cái tuổI U ngũ lục cho xa nhà, tốn kém?… Và, ra Hanoi (dẫu để học là chính) nhưng Thủ đô nào phải đất thơ, đất thẩn của anh? Hơn thế, liệu anh có giống như Trần Đăng Khoa, sau khi tốt nghiệp trường viết văn Maxim Goorky ở Nga thì hầu như kg có tác phẩm nào ấn tượng ( Vì vậy, Trần Đăng Khoa đã “được” thi nhân Tố Hữu khẳng định: “Cử thằng Khoa đi học là 1 sai lầm!”)?
.
2// NHÀ THƠ ĐIÊN NẶNG... Hôm qua, “lượn” trên báo Tiền Phong, thấy anh xuất hiện qua bài Hanoi có 5 mùa (thêm mùa kết nạp hộI viên của HộI Nhà văn). Trong bài viết này, anh có nhắc đến 1 hộI viên (anh tế nhị giấu tên) đã “sản xuất” đến hơn 10 tập thơ (tập sau thường in lại một chùm bài ở các tập trước. Thậm chí có tập, toàn bộ là tuyển lại)… Tũn biết, đó là “nhà thơ” tên H. Ông H nguyên là giám đốc sở điện lực tỉnh G nên cực kỳ mạnh tiền, lắm của (Thế nên, hà cớ gì hổng chịu mần thơ?). Thú thật, thi phẩm của “nhà thơ” Hùng Tấn ở Cà Mau (kết nạp “đặc cách” được một thời gian ngán thì bị vào tù vì tham nhũng), của “nhà thơ” bột ngọt (nguyên là 1 Thứ trưởng) ở Sài thành Tũn chưa có vinh hạnh thưởng thức.Còn thi phẩm của "thi sỹ" H – nhà thơ điên nặng (điện) này thì đã có dịp “chiêm ngưỡng” phần nào. Xin trích ra đây 2 ích - xém – pồ (example):
Tay em cầm kéo, cầm panh
Đi vào ca mổ tan tành vết thương (!)
(NgợI ca một thầy thuốc tận tuỵ)
Em là cô gái dịu hiền
Bàn tay thoăn thoắt dướI miền sợi to (!)
(Biểu dương 1 nữ công nhân dệt)
Thơ vô cùng thẩn là thế, vậy mà ông lại được “nhập hộ khẩu” vào ngôi đền lung linh huyền ảo là HộI Nhà văn VN! Và, điều đáng nói, thành tích ấy có công đóng góp rất lớn của 1 nhà thơ nổI tiếng tên T (đang cư ngụ tại 1 tỉnh miền Trung). “Tương truyền” rằng, cứ mỗI khi nhà thơ T vô Sì –gòong “ăn chơi nhảy múa” và bốc “alô” lên “è hèm” 1 tiếng là ngay lập tức, H giám đốc khăn gói bay xuống phục vụ tận tình… Sau này, như anh Sỹ nói, trong một phút ngà ngà, nhà thơ T đã tỏ ra hối hận về việc góp sức “chạy” cho ông H trở thành thi sỹ …
Cũng chính vì công lao của nhà thơ T như thế nên ở Tây Nguyên đang có thơ rằng:
Suốt ngày công tắc, công tơ
Chữ nghĩa thì ít, văn thơ nỗI gì?
Thôi về mua vịt chăn đi
Chờ T T đến ta thì tiết canh!
(Công tắc, công tơ là nghề của ổng mà)!
.
3// ...VÀ, NHÀ THƠ MUA! Tũn được biết, hiện ở Saigon cũng có 1 hộI viên HộI Nhà văn VN (là “thi sỹ” S - giám đốc 1 doanh nghiệp lớn) nhưng lạI hầu như kg thuộc bất kỳ bài thơ nào của mình. Vì sao vậy? Đơn giản là những tác phẩm của ông đều là thơ... mua. Tũn nhớ, trong 1 bữa nhậu, nhà báo V đã thẳng thừng chỉ mặt: “Ông mà là nhà thơ? Nhà thơ như ông là cái c…”! Tũn can: “Sao anh lạI chửI con ngườI ta nặng lờI như thế?”. “Tao sợ gì? Vì chính tao cũng đã bán thơ cho hắn”!? Ai đó đã nói: “Kg có tiền thì bằng mọI cách kiếm tiền, nhưng khi có tiền rồI thì tìm đủ kiểu để kiếm tiếng” quả kg sai (Chí ít đốI vớI 2 trường hợp nêu trên). Rất may cho Tũn, y "ọ oẹ" mần thơ (cho dù kg phải để lấy tiếng) từ lúc còn cắp sách. Và, cho đến nay, tuy ngườI đã bắt đầu cũ, sức đã bắt đầu tàn nhưng vẫn kg nguôi “chọc phá” nàng công chúa tên Thơ trong lúc túi tiền, nhiều khi, chẳng có lấy 1 keng!

Nguồn: Trannhuong.com

NGÀY XUÂN ĐI CHỢ... CA DAO



NGÀY XUÂN ĐI CHỢ... CA DAO
Đỗ Quốc Bảo

 Chợ ở Việt Nam có hàng nghìn năm nay, khi nhu cầu trao đổi, mua bán hàng hoá giữa người với người xuất hiện. Chợ mang những đặc điểm lịch sử, văn hoá, xã hội rất độc đáo của người Việt Nam, là nơi gặp gỡ, giao lưu, khảo cứu... Có chợ sớm, chợ trưa, chợ đêm; chợ một phiên, chợ quanh năm; có chợ mua bán lấy may chứ không chú trọng vào hàng hoá...
Chợ ở Việt Nam thể hiện muôn mặt đời thường. Rồi chợ đi vào văn học dân gian tự nhiên như tâm hồn, bản tính người Việt.

Nếu chọn điểm khởi hành từ Kẻ Chợ (Thăng Long - Hà Nội), du khách có cái lí là từ nơi đô hội bậc nhất toả đi tìm hương sắc trăm miền. Tất nhiên, trước hết phải thăm thú, khám phá nét văn hoá ở chợ đất kinh kỳ và nổi tiếng nhất ở đất rồng bay ắt là chợ Đồng Xuân:

Vui nhất là chợ Đồng Xuân
Thứ gì cũng có xa gần bán mua
Cổng chợ có chị hàng hoa
Có người đổi bạc chạy ra chạy vào...


Ngược lên Kinh Bắc, thấy cái sầm uất của vùng đất vừa có truyền thống khoa bảng vừa giỏi làm ăn kinh tế với những thương hiệu đồ gỗ chạm khảm Đồng Kỵ, làng gốm Hương Canh…:

Chợ Giàu bán sáo bán sành
Bắc Ninh bán những nhẫn vàng trao tay
Đình Bảng bán ấm bán khay
Phù Lưu họp chợ mỗi ngày một đông.


Từ Hà Nội, xuôi vào 10 cây số, đến Hà Đông cũ, Hà Tây nay, vùng đất trăm nghề có rất nhiều chợ, mà toàn là chợ nổi tiếng:

Hà Đông có chợ đằng xuôi
Ngỗng vịt cũng lắm đồ chơi cũng nhiều
Chợ Nghè có món bún riêu
Bún cua bún ốc bún tiêu bún gà.


 Ngược lên phía Tây, du khách sẽ đến nhiều chợ vùng đất đá ong Thạch Thất, Sơn Tây:

 Chợ Nủa hàng dậm hàng nơm
Chợ Trôi bán vải, hàng cơm dãi dầu
Chợ Nghệ thì lắm bò trâu...


  Còn xuôi xuống phía Nam, đi theo quốc lộ 1, sẽ gặp như cái chợ đầu mối trung chuyển Bắc Nam rất lớn ở Thường Tín:
   Xứ Nam nhất chợ Bằng Vồi
Xứ Bắc Dầu Khán, xứ Đoài Hương Canh


Bằng Vồi là tên ghép làng Bằng (xã Bình Vọng) và làng Vồi (xã Hà Hồi), huyện Thường Tín. Chợ có đủ các mặt hàng, lại có chợ trâu bò lấy nguồn từ Thanh Hoá ra, dưới Thái Bình lên rồi toả đi Hà Nội, Hải Phòng. Đi tiếp đến huyện Phú Xuyên có thể đến chợ mua sản vật vùng đồng chiêm trũng:

 Kẻ Dũi mà dủi bán tôm
Có Đường bán mật, Thanh Xuyên bán ngài.


Xuống đến Nam Định, nét văn hoá chợ quê thật quen mà rất độc đáo:

Chợ tỉnh Nam Định vui lắm ai ơi
Quanh năm tứ thời thiên hạ bán mua
 Đủ hàng thịt gạo rau dưa
 Bao loài tôm cá ốc cua thịt gà
 Bao nhiêu vải vóc lụa là
 Áo quần khăn nhiễu bày  ra thiếu gì.

Gần đó còn có chợ Rồng, biểu tượng một thời của thành Nam:

Dù ai buôn đâu bán đâu
Chợ Rồng đệ nhất Tiên Châu thì về
(hoặc: Ai chưa qua thử chợ Rồng
 Biết thành Nam vẫn là không biết gì)


Vào đến miền Trung, đi thăm cố đô Huế, tất nhiên không thể ghé những chợ nổi tiếng như Đông Ba bên cầu Tràng Tiền, đến tận nơi xem chợ Quán, Chợ Cầu… nghìn năm vang vọng trong câu ca dao nay còn họp đông nữa hay không:

Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh
Cá tôm mua tại chợ Sình
Triều Sơn bán nón Bao Vinh bán đường

Đến Khánh Hoà, không thể bỏ lỡ dịp thăm chợ Đầm (TP Nha Trang):

Chợ Nha Trang trăm vật trăm ngon
Em vừa vừa cái miệng kẻo chồng con mang nghèo


 Và khi vào đến Sài Gòn, nơi có chợ Lớn và hàng nghìn chợ khác, du khách sẽ thấy đây là đất bán mua nhộn nhịp bậc nhất, cảm nhận được nhịp sống đô thành năng động và sức mua bán thương trường rất lớn :

 Trà tàu chính gốc Hồng Mao
Trà Huế nhãn nhục hồng đào phơi khô
Chà là chí đến hạt dưa
Phèn xanh phèn trắng phèn chua gội đầu.


 Xuôi xuống Hậu Giang, có dịp thăm chợ nổi Ngã Bảy - Phụng Hiệp, một nét riêng có của vùng đồng bằng sông Cửu Long, du khách có thể hoà vào cái không khí cởi mở của người dân nơi đây:

   Chèo ghe đi bán cá vồ
Nước chảy ồ ồ chẳng thấy ai mua
Cá lò tho ăn lo chí ngán
Khô sặc rằn đem bán chợ Dinh


Đến Cần Thơ, nghe người Tây Đô kháo nhau:

Chợ Bình Thuỷ bán bánh bao chỉ
Chợ Sài Gòn bán bánh bích quy


Về Thoại Sơn, An Giang vẫn có thể nghe chuyện chợ búa khắp vùng:

Chợ Sài Gòn chà gạo lức
Chợ Bến Lức chà gạo vàng
Chợ Sóc Trăng chà gạo lộn trấu càng
Anh thương em là thương lời nói dịu dàng
…

Còn đến TX Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, du khách càng hiểu thêm rằng: Chợ của người Việt không chỉ là nơi bán mua mà còn là nơi ghi dấu bao kỷ niệm, nơi tìm bạn đời, nơi giao lưu, chia sẻ nỗi lòng…:

Chợ Sài Gòn bán đá
Chợ Rạch Giá bán xi măng
 Gặp nhau đây mới biết rằng còn
Năm Thìn bão lụt khóc mòn con ngươi

và còn có cả những điều vượt lên sự trao đổi, bán mua:

Chợ Sài Gòn còn đương buôn bán
 Chợ Vĩnh Long lập quán cầu hiền.


Đến chợ đôi khi là để có cái cớ bày tỏ tâm sự lứa đôi như vùng chợ Giồng, Bến Lức, Long An:

Đèn nào cao bằng đèn Ba Gác
Gái nào bạc bằng gái chợ Giồng
Anh thương em từ thuở mẹ bồng
Bây giờ khôn lớn em lấy chồng bỏ anh.


Thăm chợ đêm ở Giá Rai, Bạc Liêu, lại có thể chia sẻ những điều thầm kín, thanh tao của người ở ngay bên chợ mà tấm lòng không bị ma lực đồng tiền làm hoen ố:

Đêm qua chợ sáng trăng rằm
Em đi ngang cửa anh nằm không yên
Thương em chẳng phải vì tiền
Thấy em lịch sự có duyên dịu dàng.

Đến Chợ Lách, Bến Tre, cũng có thể bắt gặp những nét đẹp tình cảm tương tự như thế:

Khoan khoan buông áo em ra
Để em đi chợ kẻo hoa em tàn
Hoa tàn thì mặc hoa tàn
Mấy thuở gặp nàng nàng bảo buông ra?


Chợ qua ca dao thể hiện sự gắn bó giữa con người với con người, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào về sản vật phong phú của địa phương. Ca dao cũng là một kênh truyền miệng để quảng bá thương hiệu, thu hút khách đến thăm và mua bán. Ngày xuân đi chợ ca dao, du khách mang theo những câu ca mang nặng nghĩa tình để càng thêm quý thêm yêu những cái chợ ở mọi miền đất nước. “Đi chợ” với người Việt Nam còn có thêm nghĩa là “đi chơi chợ”, bên cạnh việc mua bán được một vài mặt hàng vừa ý, phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày, mỗi người sẽ còn được ngắm nhìn, được giao lưu, học hỏi để làm giàu thêm hiểu biết của mình về địa lí, văn hoá, phong tục… mọi miền đất nước. Cái chợ có sức hấp dẫn lâu dài chính là vì thế./.

Nguồn Trannhuong.com

Tập thơ độc bản nặng 120 ký


            Tập thơ độc bản nặng 120 ký

Nhà thư pháp kiêm kỷ lục gia VN Trần Quốc Ẩn gây ngạc nhiên mới với tập thơ độc bản nặng 120 kg - “Thi vân Yên tử”.


Sau tám tháng miệt mài, nhà thư pháp Trần Quốc Ẩn và cộng sự Phạm Tú chính thức hoàn thành tập thơ độc bản Thi vân Yên tử của tác giả GS-TS Hoàng Quang Thuận trong ngày đầu năm mới 2012.



Đây là tập thơ thứ hai của GS-TS Hoàng Quang Thuận, sau Hoa lư thi tập (năm 2010), được Trần Quốc Ẩn trình bày trong một bản sách chứa nhiều kỷ lục. Trong đó, đáng kể nhất là trọng lượng của cuốn sách lên tới 120 kg, cộng thêm kích thước quá khổ 80cm x 125cm x 16cm.

Bìa sách được hai nhà làm sách khắc bằng gỗ gụ, xung quanh khắc hoa văn theo mẫu hoa văn của chùa Đồng, tạo thành hai trụ đứng với trên đỉnh là hai hoa sen. Trung tâm bìa sách là hình ảnh chùa Đồng. Bìa một và bìa hai được gắn liền vào gáy sách bằng bản lề dài, mang màu cờ của Phật giáo Việt Nam.


Bên trong bìa một, người làm sách đã kỳ công khắc lại bút tích của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với lời khen tập thơ gồm “những bài thơ của một con người đầy tư tưởng nhân văn”.


Nội dung chính của cuốn sách là 143 bài thơ của tác giả Hoàng Quang Thuận, trải dài trên 300 trang giấy chuyên dùng in hoa văn chùa Đồng, được phủ lớp laminate bảo vệ. Để tạo cảm xúc thi vị cho tập thơ, ngoài phần chữ in, bài thơ còn được Trần Quốc Ẩn viết lại theo lối thư pháp chữ Việt, kèm theo 143 hình chụp minh họa của Phạm Tú.


Sau khi hoàn thành, Trần Quốc Ẩn cho biết ông sẽ mang tập sách lên Yên Tử để tác giả tập thơ GS Hoàng Quang Thuận trao tặng cho Thiền viện Trúc Lâm để Phật tử và du khách gần xa có dịp chiêm ngưỡng, đặc biệt trong dịp Lễ hội Yên Tử năm nay.



Trước khi ra mắt kỷ lục mới này, tác giả Trần Quốc Ẩn đã có nhiều kỷ lục VN như tập thơ nặng 54 kg Hoa Lư thi tập, tập thơ Nhật ký trong tù dưới dạng thư pháp, bảng câu đối dài nhất VN….Ông hiện đang sống và sinh hoạt nghệ thuật ở Nha Trang.

Minh Chánh
Nguồn: Vietnamnet

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Cảm nhận bài "Tiệc thơ"


Cảm nhận bài "Tiệc thơ"
Ngã du Tử
          TIỆC THƠ
                         
                Nghiêng vai chào hạt nắng rơi,
                Tiếng chuông thăm thẳm chiều vơi mắt ngày
                Đôi rèm trinh nữ mơ say
                Hoàng hôn khép cửa trăng bày tiệc thơ

                   Nguyên Hải

         Bất ngờ, với dòng thơ lạ của Nguyên Hải đăng trên trang trannhuong.com, tôi thích thú đọc và cảm nhận, thì ra trong bất cứ con người nào sự đa diện cắt lớp của từng mảng đời sống vô cùng sống động trong từng cá nhân trước cõi nhân sinh tự cổ nầy, tùy duyên, tùy cảnh mà cảm thức của đời sống qua cái nhìn lăng kính tâm hồn phản chiếu lại bằng ngôn ngữ vô ngần lung linh, ảo diệu .
        Bài TIỆC THƠ là một dẫn chứng của Nguyên Hải chỉ tứ tuyệt lục bát mà nhiều chiều ngữ nghĩa nếu người đọc suy luận theo chiều cảm nhận của mình, và chiều nào cũng lý thú,
Nghiêng vai chào hạt nắng rơi/
       Mỗi ngày, mặt trời thức giấc chúng  ta trân quý vì ta còn hiện hữu,còn biết chúng ta đang dự tiệc trần gian, ‘chào hạt nắng’ là chào mầm sống còn tồn sinh, thân ta còn thì ý thức còn dù cuộc sống cá nhân có thể nào đi nữa vũ trụ vẫn không ngừng hoạt động và đời sống luôn tiếp diễn với biến động tích cực.
Tiếng chuông thăm thẳm chiều vơi mắt ngày/
Tiếng chuông là tiếng gì mà thăm thẳm thế? Có thể là tiếng chuông tụng niệm nhà bên dội lại, cũng có thể tiếng chuông chùa ở đâu đó ngân nga, cũng có thể là tiếng chuông nhà thờ nào vọng qua, trong cung bậc nầy, mọi đối đải trong tâm thức hình như không còn nữa, trả lại sự rỗng rang tâm hồn cho nên đó phải chăng là tiếng chuông thần duyệt, tiếng gọi của đời sống, hay tiếng gõ của tâm linh trong thăm thẳm nghìn trùng nghìn xưa vọng về của tư tưởng triết lý sống phương đông đa sắc, đa tầng, nói đến đây tôi chợt nhớ đến Phạm Tường trong ‘Gõ Thức Chân Mây’ câu thơ ‘hồn chuông thần duyệt nghìn xưa vọng về’ khi người ta lắng lòng để lắng nghe, có thể nghe được ngay cả hồn của tiếng chuông ngân, và có thể hiểu được cây lá .
     Vì vậy, Con người mãi mê tìm tòi hết thế hệ nầy đến thế hệ khác vẫn chưa tìm thấy chân lý thực thể của nó, càng thú vị hơn khi đáp số cứ ẩn hiện như thực mà chưa phải là thực rồi biết bao thức giả nổ lực, say sưa tìm kiếm rồi ngày vơi dần, đời người đã được tạo hóa định đoạt vẫn chưa thấy đích đến, thì ra ‘chiều vơi mắt ngày’ là vậy phải không ? Mỗi ngày qua đi chúng ta cứ miên man suy nghiệm những gì đã qua, thực tế mang vác với cõi người, cõi đòi đầy cam go nhất là đối với người chính chuyên viết lách - thi nhân, cuộc sống bao giờ cũng khó về vật chất, có một điều rất thực rằng : ‘cán cân giữa vật chất và tinh thần, nếu thấp về vật chất thì tinh thần cao, và ngược lại’ vì vậy văn, thi nhân còn thấy niềm đam mê trong cuộc hành trình không đoạn kết với con chữ có hồn của nó.
   Một cách nhìn khác, ngày sắp hết- một quãng đường thời gian, một quãng đường đời người mà chúng ta chưa nhận diện được giá trị đích thực của đời sống ở khoảng tần suất nào. Thì ra ta vẫn còn u mê lầm lủi đi trong sa mạc mù khơi cứ hối hả, vội vã băng băng những bước chân thoăn thoắc mà chưa biết đi về đâu, nói như kiểu ‘Phụng hiến’ của thi sĩ họ Bùi : ‘ngày sẽ hết, ta sẽ không ở lại/ ta sẽ đi và chưa biết đi đâu’  hóa ra trú ngụ trần gian nầy cứ trách nhiệm kiếm sống để tồn tại, ảo tưởng rằng ta đi đúng với sơ đồ đã chọn, nào hay chọn lựa cũng từ phía nào đó của nhân duyên, định phận để ta dính mắc với nhân gian, cùng thế gian, một chút tự tại cũng khó có được vì đời sống cứ lẫn quẫn lặp đi, lặp lại đều đều có khi nhàm chán mà đôi khi ta muốn hét la cho ngôn ngữ tuôn trào trong ‘hố thẳm tư tưởng’ bừng dậy như tiếng ‘sư tử hống’ thuở nào, nhưng chúng ta chưa đủ lực bèn gửi vào thi ca ngôn ngữ ảo diệu chút thần lực khiêm hòa.
Đôi rèm trinh nữ mơ say/
Sự khép mi của người trinh nữ để cảm nhận, để suy tư về cuộc đời còn trinh nguyên, đời sống còn trinh trắng chưa bị vẫn đục của con người vốn tham lam và ích kỷ trước dung nhan đang tràn trề ý sống qua lăng kính của đôi mắt mình với bao kỳ vọng cho một tương lai tươi tắn, xáng lạng huy hoàng  bởi ‘mùa xuân là mùa của tuổi trẻ’ ồn ào và sinh động, náo nhiệt và nông nổi, người trinh nữ ấy có quyền mơ giấc mơ về đời mình thật đẹp khi  ‘chiều vơi mắt ngày’ trời bảng lãng buông hoàng hôn, cũng thơ mộng và thi vị đấy chứ ;  hay là, ở một cách nhìn khác: - dáng chiều đã buông mành lá trinh nữ khép lại mơ say một hoàng hôn đang dần về trong ánh trăng lung linh mà người thơ cảm nhận được trong cõi đời, cõi người thậm chí trong cõi vật như bức tranh trác việt của tạo hóa ban tặng, hà cớ gì thi nhân không bày tiệc thơ để thưởng ngoạn, ‘hoàng hôn khép cửa trăng bày tiệc thơ’ở đây trăng bày tiệc hay ta bày tiệc thơ, có lẽ cả hai, thi nhân vừa thọ lãnh vừa thụ hưởng.
Tóm lại, đây là bài thơ vỏn vẹn 4 câu thế nhưng thi tâm, thi tứ, thi cảnh, thi ngôn vô cùng thú vị, thậm chí nhiều giai tầng mà ai đứng chiều nào nhìn cũng cảm nhận được, thậm chí những người có tâm hồn khi thưởng ngoạn trăng đang soi rọi vạn vật, xuyên qua cành cây kẻ lá hình như tác giả đã nói giùm mình trong hoàn cảnh ấy.
Về hình thức là thể loại lục bát tứ tuyệt, lục bát là thể loại rất dễ làm nhưng lại khó hay, song nhờ ngôn ngữ và hình ảnh rất mới, lạ như chiều vơi mắt ngày, hoàng hôn khép cửa’. Riêng tôi câu thơ ‘tiếng chuông thăm thẳm chiều vơi mắt ngày’ như có thần lực hình như bậc thánh thi nào nhập thần váo tác giả để tác giả viết vào. Hình ảnh thơ lạ ‘chiều vơi mắt ngày, hoàng hôn khép cửa’  ai cũng hiểu được không phải nhào nặn để đánh đố ngữ ngôn như những tác giả khác cố gồng lên dùng những ngôn ngữ lạ, kiêu kỳ ở từng chữ nhưng thành câu thành thơ thì chẳng thể nào hiểu nổi họ muốn nói điều gì dù đã cố gắng chiêm nghiệm .
Thơ là tình, cảm xúc của trái tim – cung bậc ấy được nâng lên thành thi ca thì sức cảm nhận của mỗi độc giả, mỗi người mỗi cách chẳng ai giống nhau, càng đọc càng chiêm nghiệm càng thấy lung linh, bát ngát trong cánh đồng văn chương vô tận, vô biên. Cho nên thi ca vẫn muôn đời tồn tại bất kỳ ở tình trạng nào, hoàn cảnh nào trong cõi nhân gian .

Sài Gòn, Đầu xuân Nhâm Thìn 2012

Ngã du Tử 
Trannhuong.com

Chùm Thơ của nhóm Bích Câu Thơ



Chùm Thơ của nhóm Bích Câu Thơ


TIẾNG MÙA XUÂN
QUỐC DŨNG
.
Em xuống phố dường như rất vội
giấc mơ đêm còn đọng lại nụ hôn
Hồn trên lá hình như còn mơ ngủ
Nắng trong sương lấp lánh đón mặt trời.
giữ trong lòng trắc ẩn những đầy vơi
Những mối tình lòng em không mong đợi
Em vội vã đi vào ca sớm
Để chiều về có hương thơm bát cơm.
Mặt trời lên rúc trong giọt mồ hôi
Lăn xuống ngực em người quét rác
Nghe mọng căng ấm lên lồng ngực
Tiếng mùa xuân nhẹ cựa trong lòng.
.
 
HẸN NGÀY VỀ
Bùi Nguyệt
.
Nơi đây ngày nào đặt chân tới
Bông tuyết vương mái tóc ngỡ ngàng
Bụi phấn hoa phủ mờ kỷ niệm
Nhành thông xanh gạt những ưu tư
Tuyết vẫn rơi nối tiếp theo mùa
Tóc đen dày thưa dần sương phủ
Dòng thơ buồn thêm trang giấy nhỏ
Vợi cô đơn bớt lạnh đêm dài
Ký ức quê nhà sao sâu lắng
Rau luộc canh me bữa trưa hè
Hoa sữa tỏa hương khi thu đến
Soi bóng mặt hồ những lứa đôi
Ấp ủ trong tim màu mực tím
Bạn bè thân thiết thủa xa xưa
Ngây thơ trong trắng cùng chung lớp
Vô tư rạng rỡ lúc vui đùa

Còn nhiều kỷ niệm ơi da diết
Hình bóng người yêu mối tình đầu
Gửi gió cuốn đưa lòng khao khát
Hẹn ngày về với cánh phượng xưa.
(Chemnitz ,CHLB Đức)
.

ĐƯỜNG MÂY
BÙI THỊ SƠN
.
Đường  Mây- ấy là nơi em ở
Thị xã hình chim én bay lên
Xuân tươi hồng duyên dáng lướt qua thềm
Anh thợ điện nối gạch ngang hai đầu núi
Chợ Nậm Loỏng dâú chấm tròn bối rối
Ôm ấp bao sản vật của rừng
Giọng mời chào quyện ngọt mật ong
Mắt sóng sánh và nụ cười tươi rói
Tiếng ngựa hí trên thung mây vời vợi
Gõ nhạc vào dẫu ngã khúc ngoặt sông
Bắp chân tròn cô gái  H’ Mông
Theo nhịp váy đung đưa xuống chợ
Tả Làng Thang ầm ào thác đổ
Dấu sắc khổng lồ trắng xóa vút cung mây
Bầy em thơ má đỏ hây hây
Tay trong tay tung tăng đến lớp…
Người tản bộ đêm thơm đường Đoàn Kết
Tân Phong vui bên ao cá Bác Hồ
Chè san rót ngọt lịm cả giấc mơ
Đêm đêm em vẫn thức làm thơ
Về  một vùng để thương để nhớ?
Pu Xam Cáp nồng nàn hơi thở
Đường vào động hang nối tiếp tới Đường Mây
.

MỘT THOÁNG BÂNG KHUÂNG
ĐÔNG TÙNG
.
phố vẫn thế mà lòng xa lạ quá
ghế đá buồn cô lẻ một vầng trăng
hàng cây nhỏ thẩn thờ lay cơn gió
giữa xuân nồng sao bất chợt bâng khuâng
phố vẫn thế nhưng tình người không thế
lời hẹn thề yên ngủ kể từ đây
bao nhung nhớ hao mòn đôi mắt mộng
nghe thênh thang tẻ nhạt giữa bao ngày
phố vẫn thế nên hồn thơ thổn thức
vẫn mong chờ một màu nhiệm xa xôi
trong hư ảo dệt thêm điều mơ mộng
để bình minh hương sắc hóa phai phôi


Bích Câu Thơ

Thơ Duệ Anh



Thơ Duệ Anh

Với một người bạn cũ

Anh cùng tôi đến chợ Hôm, chơi chợ
ở đó có cô hàng rượu
Anh sẽ say chiều men ủ
ở đó có mùa thu
Tôi dẫn anh đi uống mùa thu
lai láng đong mắt người con gái
Rượu thơm rót nỗi buồn êm ái
vào chiếc ly sành óng ánh vẽ hoa xanh
Nếu mặt trời ngụp xuống đáy chông chênh
anh sẽ bơi ngang chiều quên lãng
Khật khương mùa thu, tôi cùng anh khật khưỡng
bỏ qua cái thời ghét nhau

Đi, ta đi chợ Hôm chơi chợ
ở đó có cô hàng rượu dịu dàng rót mùa thu

Bên lở

Mình lấy chồng
lấy chồng
cầu cho mình lấy được người giỏi
giỏi hơn ta, quý mình hơn ta
gái ngoan tìm chồng
đừng ngại

Ta ở vậy
làm 24 năm trai goá chờ mình
Ta chờ như cau non
Ta chờ như sấu chín
Mình đậu bến nào
có nhớ về nơi bóng cây đa

Ta chờ như 24 năm trai tơ
Ta chờ 24 năm lỡ lứa
Mình đi lấy chồng bên bồi bên lở
Ta ở vậy bên lở bên bồi
Trải bàn tay mình ngồi
bên lở

Làm mặt giận

Nhủ ta đừng tựa lưng vào niềm tin
sao cho được
Hạt phấn bay vào mắt
là phấn gì

Sao nhủ ta lấy cái cầu kì
vòng hoa điếu văn nghiêm trang
trước một phần nước mắt?


Người giận ngoảnh mặt
ta không giận, ta xây lưng
lời sưng sưng
tỏ rằng âu yếm

Cố giặn cái cười lấp liếm

người yêu người ngấm nguýt chi nhau.
.

Thơ Duệ Anh
Hoàng Xuân Họa giới thiệu