Hiển thị các bài đăng có nhãn 99 KHÚC TẶNG LIÊN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 99 KHÚC TẶNG LIÊN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

Sách 99 khúc/ Từ 009-001

NGUYỄN NGUYÊN BẢY
Thơ

99 KHÚC TẶNG LIÊN

NXB VĂN HỌC

Trả lại hết sướng vui nạn ách. Chuyền tay chữ hát xuống thuyền. Thung thăng ngược bến cỏ non..
Là khi anh nói về em. Bông hoa trước cửa tự nhiên nở bùng. Trên cành một giọt sương rung. Gió nhẹ vô cùng thổ mãi không rơi…

THỨ TỰ 10: 009. Sông Tương/
008. Ca trù mùa thu/ 007. Vườn chiều/ 006. Bốn Mùa/ 005. Bài thơ tên là em/ 004. Phụng Hoàng/ 003. Thư tình đầu đời/ 002. Huyền thoại phúc/ 001. Kinh thành cổ tích/ Mục lục

Sách 99 khúc/ Từ 019-010

NGUYỄN NGUYÊN BẢY
Thơ

99 KHÚC TẶNG LIÊN



NXB VĂN HỌC


Trả lại hết sướng vui nạn ách. Chuyền tay chữ hát xuống thuyền. Thung thăng ngược bến cỏ non..
Là khi anh nói về em. Bông hoa trước cửa tự nhiên nở bùng. Trên cành một giọt sương rung. Gió nhẹ vô cùng thổ mãi không rơi…

THỨ TỰ 9:
019. Tự họa tuổi thơ/ 018. Bái tình/ 017. Ký ức ca dao/ 016. Hai ngôi sao không lặn bao giờ/ 015. Cầu Gió/  014. Thác ghềnh sóng gió ơi ! 013. Mười Rằm Mồng


Thứ Hai, 15 tháng 4, 2013

Hai Xuân viết về thơ Nguyễn Nguyên Bảy


Nhà thơ Hải Xuân
NHỮNG CÂU THƠ ĐƯỢC CHƯNG CẤT
QUA THỜI GIAN KHỔ CỦA NGUYỄN NGUYÊN BẢY



Nhà thơ Hải Xuân :
Thơ Nguyễn Nguyên Bảy được chưng cất từ “thời gian khổ” òa vỡ bùng trào thành những tiếng ca day dứt của một tâm hồn nhiều cảm xúc, nhiều cảm thức, nhiều dư cảm âm vang từ chính trái tim yêu. Trái tim yêu nhiều cảm xúc ấy không chỉ làm thơ để tặng một người, mà còn tặng chung cho nhiều vùng đất và nhiều trái tim yêu khác. Cũng là để đối diện với cõi đời, đối diện với những yêu thương và thua thiệt, khổ đau đời mình/ Tôi phạm tội trẻ con/ Luận Kiều thời chinh chiến/ Biết phận mình ong kiến/ Chẳng dám trách miệng quan/ Tay bưng bát cơm ăn/ Cố lùa và nỗi nhục/ Gối tình ôm sát ngực/ Cố đừng mòn sống ơi…(Tự thuật bốn đoạn - Đoạn tội)
Tự thuật bốn đoạn gồm: Đoạn cỏ, Đoạn tội, Đoạn sống và Đoạn pháp, đoạn nào cũng làm cho người đọc, đọc xong thấy nhưng nhức một nỗi buồn. / Anh yêu em/ Tay chai sạn đêm đêm tìm vú/ Vú tràn sữa ngọt nuôi con/ Nói dại nếu đạn bom chia lìa đôi lứa/ Bể vẫn còn, cỏ vẫn còn/ Vú vẫn còn ấm nóng tay yêu/ (Đoạn cỏ)
Mỗi con người sinh ra để được sống, được tự do và được yêu thương nhau, thì dù trong khó nghèo đầy đọa họ vẫn yêu đến hết mình, yêu đến cháy mình. Bởi tình yêu lứa đôi, và cuộc sống hạnh phúc của họ bao giờ cũng là một bầu trời đẹp, bầu trời đẹp tinh khôi trường cửu: “Anh yêu em/ Con cá bé xíu yêu con cá bé xíu…” nhưng “Giữa bể đời mênh mông…” chúng ta phải vượt… kể cả chiến tranh “đạn bom chia lìa đôi lứa” thì “Tay chai sạn đêm đêm” anh vẫn lần tìm… dòng sữa ngọt nuôi con. Và rồi, trong yêu thương anh đã phạm tội gì để đến nỗi chúng ta phải chịu như một kẻ “lưu đầy” giữa quê hương mà lúc nào cũng được mệnh danh  tự do hạnh phúc: “Có một thứ luật pháp/ Không xử không cần giam/ có một thứ luật pháp/ tra tấn bằng tem cơm/ Có một thứ luật pháp/ Sống mà như chết mòn” (Đoạn tội).


Nhà thơ Hải Xuân:
Cuộc đời mỗi con người đều có sự oái oăm riêng của nó, đôi khi mất cái này, song lại được cái kia. Tuy thứ được đó không bằng cái mất nhưng cũng là một chút an ủi, động viên cho ta tiếp tục sống và vượt lên chính mình. Tôi được dự rất nhiều cuộc đọc thơ, ngâm thơ nhưng chưa bao giờ thấy một nhà thơ nào vừa đọc thơ của mình, vừa nghẹn ngào như Nguyễn Nguyên Bảy đọc thơ ở buổi ra mắt tập Thơ Bạn Thơ 1, và 99 Khúc Tặng Liên, ngày 25 – 9 – 2012 tại thư viện café sách của nhà văn Đoàn Tử Huyến, phố Trần Quý Kiên hôm đó. Không hiểu do xúc động, hay một đòn đau nào đó ngấm trong anh từ xa xưa ùa về trong ký ức, không kiềm chế được cảm xúc nên anh đã vừa đọc thơ của mình vừa chan nước mắt đầy mi./ Khốn khổ thân tôi đa tình/ Phạm luật người quan họ/ Cõng một cánh bèo dạt trôi/ Cánh bèo tôi vốn liền chị con côi/ Cha mẹ bay về trời/ Bỏ lại một chuồng gà vịt…/(Quan họ không ngoại tình)
Cha trời ơi! Mùa xuân, mùa hội hè đình đám chúng tôi hát hỏng với nhau cho vui mà người ta cũng đề ra lệ luật, đặt ra những vùng cấm đoán để bắt bẻ kẻ ham vui, trói buộc người muốn chơi vui thì những kẻ sĩ này làm sao chịu nổi... Đoạn thơ trên anh vừa đọc vừa nghẹn ngào trong nước mắt? Có điều gì ẩn chứa trong đó mà làm anh xúc động mạnh đến vậy?

Nhà thơ Hải Xuân:
Tôi quen biết đôi vợ chồng thi sĩ Nguyễn Nguyên Bảy - Lý Phương Liên chưa lâu, mỗi năm chỉ gặp nhau đôi lần. Thơ anh tôi đang tiếp tục đọc. Đọc đi đọc lại để hiểu thêm, thấm thêm. Định bụng sẽ viết một chút gì đó cho ra tấm ra món về hai “tòa núi” thơ này..

Nhưng...!!!
Trong khi chưa viết nổi thứ “ra tấm ra món” kia thì xin chọn ra một số câu thơ của anh mà tôi thích. Thích theo cảm xúc chủ quan cá nhân mình. Và...giá mà có cô hay cậu sinh viên khoa văn nào làm một luận văn tốt nghiệp về thi pháp thơ Nguyễn Nguyên Bảy, tin là luận văn đó sẽ không là luận văn bình thường...

Mùa hoa gạo 2013


Nhà thơ Hải Xuân
(đọc chọn)

Ở đâu núi chảy ra lửa chết
Hai bàn tay mẹ làm lành lại hết
(Nam mô đất)

Trên cành một giọt sương rung
Gió nhẹ vô cùng thổi mãi không rơi
(Mây mưa)

Mẹ lại hiện về lưng còng như trăng
Con đâu biết phải làm gì để lưng mẹ thẳng
…
Tình nghèo chăn rách
Em co kéo tứ bề đắp ấm cho anh

(Ký ức còn lại)
Lưỡi còn biết miếng ngon lành
Bát cơn chan nắng có thành canh chua
(Lục bát tuổi chiều)

Chó vây tiếng sủa inh tai
Con bò lạnh nhạt đứng nhai nắng tàn
(Từ Thức bơ vơ)

Tử tế bốc lên thành mưa rào mưa xuân
Độc ác bốc lên thành mưa đá mưa máu
(Mẹ nói với bạc đầu)

Gió ở quanh ta nhưng gió vô hình
Không nhìn thấy mà thịt da cảm được
(Ngưỡng Phật)

Thu ngoái sau lưng hóa vàng cho sen pháo
Còn chút sướng hạ nào thì nở nốt cho thu
(Thu xa quê)

Tranh gió đông gom lá trả lại trời
Tôi gánh vàng về an ủi cỏ lau tôi
(Thu xa quê)

Khúc sông xưa gió vẽ cây cầu
Cầu thật lạ mà người thì quen lắm
(Cầu gió)

Trên trời tất nhiên có Giời
Nhưng sao Giời nỡ bất công
Để con càng lớn càng cao mẹ càng già càng thấp
(Mẹ khóc)

Mới hay trắng sáng thì thầm
Gió ôm trăng nói gió cầm trăng đi
(Lời tóc cỏ lau)

Cỏ lau cười lắt lay đầu
Sông lăn tăn sóng thoa bàu vú trăng
(Lời tóc cỏ lau)

Con xõa tóc cỏ lau thỉnh mẹ
Mẹ hiện về mưa bụi hoa cau
(Nam mô tết)

Răng tháng tám nhìn thèm trái chín
Miếng nhừ là miếng ngon
Bữa ăn nào cũng kể cổ tích cơm
(Tự họa tuổi trưa)

Thả mình phơi trong đỏ biền chiều
Anh theo sóng cắn mềm bờ cát
(Biên đỏ chiều)

Lúc tôi về với bổn phận tôi
Lúa thiếu mồ hôi lúa không chịu chín
(Vãng lai thơ)

Phải trong trời biển ngửa nghiêng
Hình như có mối tình riêng chúng mình?
(Hải Vân)

Thi nhân cười gạo sôi vung
Đũa cả em ghế một vùng tám sen
(Tiệc tình)

Cội thương nhớ chẳng nhạt phai
Phận đời Tô Thị khóc mài vào mưa.
(Lội về thu ngâu)

Giấc ngủ bệnh hỏa thiêu thân xác
Thân em dâng một sông tình
(Viết trên giường bệnh)

Nhện buồn sao chửa giăng vui
Chấu chưa cắn hết những lời tro than.
(Viết trên giường bệnh)

Trăng như da ngực trinh tân
Hỡi trăng đã có một lần ai hôn
(Tự Tình)

Tội nghiệp chuyến tầu cuối
Chở toàn là gió hoang
(Tầu Điện đêm)

Rạch mặt chửi cả làng Vũ Đại
Cháo hành lò gạch trăng mơ
(Tụng khổn)

Phật ở trong tâm nên phật vô lượng Phật
Kẻ ác hồi tâm và người tốt tốt hơn
…
Gió ở quanh ta nhưng gió vô tình
Không nhìn thấy nhưng thịt da cảm được
(
Ngưỡng Phật)

Đắng cay ngoảnh lại lăng thinh
Ngọn đèn dầu hỏa họa hình trăng lu
(
Ban Mai)

Trằn trọc bẻ khục ngón tay
Ai đè ngực xuống để rây điệu buồn
(
Bài ru trằn trọc)


Thơ nguyennguyenbay/ Hai Xuân đọc chọn

Sách 99 khúc/ Từ 29-20

  NGUYỄN NGUYÊN BẢY
Thơ

99 KHÚC TẶNG LIÊN


NXB VĂN HỌC

Ướp trà em. Cài tóc em. Mà vẫn khinh em. Hoa nở đêm. Nhưng em vẫn nở đêm. Cho ngon trà. Cho ngọt tóc. Em vẫn cứ là em. Hoa nhài..

 You chilled our tea. You perfumed our hair. But people still despise you. Flower of the night. Yet because you still blossomed at night. Bathing under the moonlight. Soaking drops of dew. Bringing taste to our tea. And sweetness to our hair. You remain who you are – Jasmine
(
Anh ngữ Nicholas James Steiner)


THỨ TỰ 8: 029. Cuối ru/ 028. Tầu điện đêm/ 027. Mùa yêu/ 026. Ngã bảy/ 025. Lời hoa quỳnh/ 024. Nợ trăng/ 023. Sông Mê Bến Lú/ 022. Lãng Du/ 021. Tam tấu/ 020. Câu sáu câu tám

029. CUỐI RU

Cuối ru với gió của tôi
Hanh heo phố cổ
Hưu ngồi quạnh hiu
Đèn vàng hắt bóng xiêu xiêu

Sáng mờ mờ gọi
Tay khêu bấc buồn
Cuối ru ẩn hiện trong hồn
Giăng tơ từng sợi để bồn chồn lo
Cuối ru chợt nhớ bến đò
Mắt thơ thẩn đợi
Một bờ nắng lên
Điệu vần ru lội liên miên
Kinh thành ngách ngõ những miền đất yêu
Quên bữa sáng
Bỏ bữa chiều
Đầu moi những hạt tín điều ra ăn
Cố nhai hết những băn khoăn
Trong đêm thao thức
Ngày nằm chiêm bao
Sống không nuôi một ước ao
Xem ra thân xác tầm phào xác thân
Thở than nghe tiếng tri âm
 Vọng về từ thuở muông cầm xa xưa


Tôi ơi
Tôi có đâu ngờ
Mình tìm mình mãi
Mình chờ mình thôi
Và tôi không buồn không vui
Bước chầm chậm dưới một trời mưa mau
Mặt kinh thành sáng làu làu
Tắm mưa trẻ nắm tay nhau làm rồng
Tôi đi về phía bến sông
Thân lau góp bắc cầu vồng qua vai
Trong gió ai đó thở dài
Tiếc ư? Đành chuộc một vài câu ru...


028. TẤU ĐIỆN ĐÊM

 Tầu chạy cuốn đêm đông
Chở độc một người khách
Gió trong khoang chật ních
Run cầm cập môi hôn

Đèn đôi ngọn lom đom
Nhợt nhạt vàng mệt mỏi
Người lái tầu thở khói
Dựng hờ cổ áo bông

Phố như một dòng sông
Tầu trôi ngang qua cửa
Leng keng chuông gọi đỗ
Khách mơ hồ xuống ga


Tầu ngược về Thụy Khuê
Lao nhanh trong giận dỗi
Tội nghiệp chuyến tầu cuối
Chở toàn là gió hoang

Tầu mất hút cuối đường
Cây rơi vài phiến lá
Tầu về ga tầu ngủ
Khách biết ga nào về?

The Night Tram

The tram was running
Rolling through the winter night
Carrying just a lone passenger
While passing gusts of wind crowded the tiny cabin
Causing the man’s cold lips to tremble

A few blurry lamps scattered here and there
Reflected tiredly their weak, yellowish light
Smoke escaped the driver’s mouth with each breath
His collar tenderly raised

The street outside was like a flowing river
And the tram a boat drifting past houses and doorways
It was time to stop when the bell rang
Cautiously, the passenger disembarked

In angry speed the tram moved once again
Pitiful and last train to ThuyKhue
Carrying none but full gusts of wild wind!

The tram vanished near the end of the road
As a few leaves fell from an adjacent tree
The tram was on the way to its station to rest
Will the passenger know how to return?
(Anh ngữ Nicholas James Steiner)

027. MÙA YÊU

Mùa yêu rồi đó hỡi em

  Trăng rằm đổ xuống đầy thềm giọt hoa
  Tay Trăng cởi áo tình ra
  Tung vào gió tiếng ngân nga trầu mời
 
Mùa yêu rồi đó mình ơi
 
Mỗi người chỉ có một thời thần tiên
 
Lòng anh đầy ắp hình em
 
Để khi gian khó hiện lên môi cười
  Còn em chỉ một anh thôi
  Trong thương nhớ cất thành lời hát ru
 
Âm Dương tình ngỡ trong mơ
Mùa yêu chẳng có bến bờ thời gian
  Tiệc rằm rồi cũng phải tàn
  Nhanh nhanh em kẻo huy hoàng đang trôi.


026. NGÃ BẢY


Hôm xưa chỉ mới ngã ba
Đã không nhận nổi ra nhà mình quen
Bây giờ ngã bảy giữa đêm
Có ai mà hỏi lời huyên thuyên đường.

Hôm qua sống giữa yêu thương
Xung quanh ùa bốn phương hồn hỏi han
Bây giờ người tưởng thật gần
Đã thành xa lắm muôn phần lạ xa.

Hôm xưa tặng một nhành hoa
Bao nhiêu rối rít như là tơ vương
Soi mình vui cả mặt gương
Tình yêu nhón một cánh chuồn chuồn bay.

Hôm xưa đi đó đi đây
Ngã ba nào cũng bàn tay chỉ đường
Sống là kẻ được yêu thương
Chân không lạc lối chân luôn tìm về.

Bây giờ một thoáng u mê
Hư không cám dỗ chán chê sự đời
Tự nhiên biến mất nguồn vui
Ngả ba ngã bảy đứng ngồi chân vân.

Anh đang lú lẫn độc thân
Tay em đâu? Gió vẫy gần vẫy xa
Lối nào anh nên đi qua
Giữa đêm ngã bảy đứng la cà đời


025. LỜI HOA QUỲNH

Đời em nắng cứ nhoáng nhoàng
Vừa hoàng hôn đã hôn hoàng gọi trăng
Quỳnh hoa nở ngát một hằng
Đã thành rũ rượi về nằm hoang vu

Đời em ngắn một giấc mơ
Kê vàng? Nào có ước chi kê vàng
Bởi biết đời ngắn tấc gang
Chỉ mong được sống bằng an phận người

Em nở đây hỡi trời ơi
Tấm trinh thơm thảo một đời quỳnh hoa
Ảo trong hoan lạc hằng nga
Đò ru sóng ngủ ong đôi ba ruồi

Than hoa để tiếc cho người
Nở đêm muôn kiếp vẫn đời quỳnh em
Ước sao nắng thức cùng đêm
Để cho em nở giữa thềm nắng non..


024. N
Ợ TRĂNG

Tình yêu hai chúng mình
Không ngôn từ mây gió
Không ngọt ngon cám dỗ
Mộc mạc lời trăng rằm
Mà nên duyên tri kỷ
Mà nên tình tri âm
Vầng trăng con mắt nhìn
Như thần linh chứng giám
Mỗi khi gặp hoạn nạn
Lại nhìn vầng trăng treo
Mỗi khi tắt lửa yêu
Lại gọi trăng xin lửa
Nợ trăng chỉ trả đủ
Thủy chung yêu một đời.


023. SỒNG MÊ BẾN LÚ


Ngã vào trong say xõa tóc
Thịt da nào chẳng bếp lửa hương cây
Xác thân mời gọi


Giá đừng có những lời ngọt lợ
Anh đã lừa được mình đây chính là em
Để nhắm mắt mềm lòng

Hiện giữa thinh không
Em ôm mặt xấu hổ đỏ rực
Cháy khét từng cọng tóc

Lời ngọt lợ vẫn ru anh
Phù thủy những ve vuốt lửa
Anh cố cháy mà không thể cháy

Gió gõ cửa
Trong thinh không không em
Chỉ còn thoảng mùi khét tóc cháy

Anh nắm mùi khét ấy
Trước mặt sông mê sau lưng bến lú
Bâng quơ một tiếng gọi đò


022. LÃNG DU

Chân đang đi bốn phương trời
Bỗng say nghiêng ngả tiếng cười hát thương
Dừng chân mượn chuyện hỏi đường
Lời không giấu nổi mắt bồn chồn yêu
 
Cớ rằng trời đổ về chiều
Xin chim mượn cánh bay theo về rừng
Lại xin mượn tổ ngả lưng
Lại xin góp gạo thổi chung một nồi

Có rồi tổ ấm đời tôi
Lãng du ngừng bước để rồi ngắm em
Ván tình đã đóng nên thuyền

Cùng ra biển nhé mời em động chèo
Chuyện rằng một lãng du yêu
Qua bao ghềnh thác vẫn niêu cơm vàng


021. TAM TẤU


Anh ngồi cùng bạn đọc thơ
Chiều ấm bụng gió đầu đông se lạnh
Thơ run rẩy những lời có cánh
Khúc yêu mình trộn khúc thương con

Bếp lạnh khúc yêu nhìn thạp gạo
Trống không như bụng trống không
Mình nâng tiếng gọi của chồng
Thơ đến khúc cao trào pháo nổ

Khúc thương trong màn khóc mớ
Khúc yêu lạc giọng ru con
Lời ru không vui không buồn
Thơ hạ cánh đậu nghe lạnh ngắt


020. CÂU SÁU CÂU TÁM

Thơ này em tung câu sáu
Anh hứng câu tám

Câu sáu em bay cò trắng
Câu tám anh ôm tình trắng mướt bến sông xanh

Hỡi anh hỡi anh hỡi anh
Đừng hỡi anh nữa mà thành trường ca

Ta đang ngược về hôm qua
Nắng hôm nào chẳng thật thà vàng ươm

Nhưng hôm qua ở quê hương
Không gian nào có cháu con là nhà

Trăng thề đã ở rất xa
Thì anh đã ủ trăng thề vào tim

Núi Nùng đêm ấy cánh chim
Nào chim có mỏi nổi chìm cho yêu

Giận hờn anh có mang theo?
Ôi ôi ôi thuở đói nghèo sao quên

Này em này em này em
Chừng nào em còn tung câu sáu

Chừng nào anh còn hứng câu tám
Thì bến sông nao nào chẳng có cò
Tình yêu hổn hển thở thơ
Gieo cò trứng nở trắng bờ âm dương..
/ CÒN TIẾP/
99 khúc tăng Liên

Sách 99 khúc/ Từ 39=30

  NGUYỄN NGUYÊN BẢY
Thơ

99 KHÚC TẶNG LIÊN


NXB VĂN HỌC

Ướp trà em. Cài tóc em. Mà vẫn khinh em. Hoa nở đêm. Nhưng em vẫn nở đêm. Cho ngon trà. Cho ngọt tóc. Em vẫn cứ là em. Hoa nhài..

 You chilled our tea. You perfumed our hair. But people still despise you. Flower of the night. Yet because you still blossomed at night. Bathing under the moonlight. Soaking drops of dew. Bringing taste to our tea. And sweetness to our hair. You remain who you are – Jasmine
(
Anh ngữ Nicholas James Steiner)

THỨ TỰ 7: 039. Tự họa tuổi trai/ 038. Ban mai/ 037. Hai khúc 30 năm: Ga Canh Tuất, 1970-Ga Canh Thìn, 2000/ 036. Cầu hôn/ 035. Đám cưới bạc/ (*) Rượu làng Nhân/ 034. Hỏi đường/ 033. Lưu trữ yêu/ 032. Bài ru trằn trọc/ 031. Lá thu/ 030. Những nếp nhăn đuôi mắt


039. TỰ HỌA TUỔI TRAI

Ánh gằm gằm giấu sau đít chai
Cháy thành lửa cũng chỉ là lửa mắt
Mắt trông theo nắng vượt thác
Mắt võng theo trăng qua đèo
Mặt trận cờ reo quân reo
Trào lửa mà đành nuốt khóc
Đứng tựa lưng trăng
Bút thay gươm súng
Chuốt câu thề..

Sắc đỏ của máu và mầu vàng cùa da
Mỗi chúng ta là một ngọn cờ


038. BAN MAI


Của ta rồi đấy hỡi em
Nghe biển trở dạ nở lên mặt trời
Mở lòng mà đón ban mai
Yếm trăng buộc lại thiên thai hẹn chiều

Trọn đêm ngủ đắp lửa yêu
Ngày vừa rạng đã trong veo nắng hồng
Trời trăng trong cõi hư không
Xem ra chẳng thể mênh mông bằng tình

Đắng cay ngoảnh lại lặng thinh
Ngọn đèn dầu hỏa họa hình trăng lu
Mõ lòng gõ nhịp hư vô
Ai cho làm tượng ngồi tu trong chùa

Không chờ tu tạnh gió mưa
Theo thời sống mái được thua cùng bầy
Chết thì xác bón cho cây
Sống thì thoát kiếp đọa đầy đời ta

Trải bao cơ cực xông pha
Xuyên đêm chân lội vội ra ban ngày
Đời cười rồi đấy hôm nay
Mình ơi, anh nói lời này: Của ta…


037. HAI KHÚC 30 NĂM
Ga
Canh Tuất, 1970


Trai thới chiến mấy người ba chục tuổi
Được trời cho cưới tình yêu
Nào ai khen tích trò trống mái
Ba khoan thêm tội cho Kiều.

Rồi sinh con ơn trời không là gái
Chiến tranh biết hết khi nào ?
Luân hồi nhân danh sông núi
Trí trai dài một ngọn lao.

Rồi hôn con rồi kề vai đồng đội
Ga này ga cuối biết đâu
Dẫu là vậy vẫn là đời trăm tuổi
Lẽ người sống hết nông sâu.

Hà Nội, 1.1.1971


Ga Canh Thìn, 2000


Tóc bạc không lo bạc tóc
Khòm lưng không sợ lưng khòm
Chỉ sợ bút không còn lực
Cho hồn run rẩy trăng non.

Không nhớ mình bao nhiêu tuổi
Nhựa xuân dâng ngực tràn trề
Mai nở rụng đầy một cội
Thân cành nẩy lộc non tơ.

Đừng hỏi ga nào sẽ xuống
Ngưa phi tung bờm ngựa phi
Vay xuân cắt đầy máng cỏ
Ngựa xuân sức vó đang thì.

Sài Gòn, 1.1.2000



036. CẦU HÔN


Anh là một trang nam nhi
Đủ sức đưa em tới địa đàng
Nếp tẻ rồi đầy đủ cả

Anh không hứa của ngon vật lạ

Mỗi bữa đủ ba lưng cơm
Cá mương sông om với lá gừng

Anh không hứa lụa là gấm vóc
Ngực hồng che yếm nâu non
Quần gai quấn ấm mưa phùn

Anh không hứa lầu cao môn rộng
Một mái nhà đủ che mưa nắng
Trước thềm một mụn hoa

Anh hứa tặng em đôi gối
Thêu quan họ tứ thời trăng
Để mỗi tối gối ru em ngủ

Anh hứa dìu em qua cầu gió
Cõng em qua sông mưa
Đò khẳm tình sam quấn quýt

Anh hứa đôi ta mùa gặt
Nếp cho đời là nếp cái hoa vàng
Tẻ cho đời là tẻ xoan tẻ dự

Anh chỉ xin tình một điều
Chợt đôi lúc anh lạc mê lạc lú
Em hãy là Bồ Tát khoan dung


035. ĐÁM CƯỚI BẠC 

Xin trời đất linh thiêng
Nhận chúng con một bái
Sau bão giông là mưa thuận gió hòa
Sau lũ lụt là đồng xanh trái chin
Ba mươi năm dài hay ngắn
Đầm ấm một lương duyên ?

Xin mẹ cha cô bác
Xin những ai ba mươi năm trước
Dự mừng hôn lễ chúng tôi
Nay đã về trời làm gió làm mưa
Nhận chúng tôi một bái
Lời trăm năm thắm nửa đoạn đường.

Xin hồn con tội nghiệp mẹ cha nghèo
Vội vàng giã biệt
Xin mái nhà của cha giột nát
Một đàn con lợp không xong
Hư không hỡi hư không
Bái này còn ân hận mãi.

Xin bạn bè xa ngoái lại
Xin bạn bè gần đừng đi
Ba mươi năm tưởng mới hôm qua
Hôi hổi bàn tay tình bạn
Đá vàng hoạn nạn hoan ca
Bái này xin tình nhận.

Còn bái ngũ chúng tôi tạ nhau
Ba mươi năm ta lại lễ tơ hồng
Vẫn xinh đẹp là em ngày ấy
Vẫn đấng nam nhi là anh ngày ấy
Con cháu ta nếp tẻ một sân đời
Nào cho anh một cái hôn lửa cháy.

Đám cưới cổ đổ rượu làng Vân (*)
Đám cưới tân ba tầng rượu chát
Chúng mình cưới nhau
Chỉ có trà đào và quy gai quy xốp
Thuốc lá điếu vấn sợi vàng
Và tiếng máy bay địch đã bay xa.

Em chưa một lần làm hoàng hậu
Khăn đóng áo dài thêu
Ai đó tặng đôi gối cưới
Chim câu quấn quýt đến bây giờ
Bạn bè tặng rất nhiều thơ
Vần điệu một đời rơi nước mắt.
Ba mươi năm em vẫn em chân chất
Rượu làng Vân em rót mời anh
Ly rượu chát anh mừng mình
Vui gì mà em đẹp thế ?
Ba mươi năm vẫn hôn nồng nàn thế ?
Đám cưới cổ bỗng nhiên tân.
Em nhận tất cả những lời mừng
Rồi trả lời mừng từng người một
Nhờ giữ dùm cho hai mươi năm sau
Trong đám cưới vàng
Em xin nhận lại
Đeo cổ tình một chiếc kiềng yêu.

Đêm ấy anh mơ thấy đám cưới vàng
Em làm hoàng hậu
Gót hài thơ thẩn chờ ai
Anh giật mình gọi tỉnh
Em cười trong tiếng trách yêu
Rượu làng Vân say lịm...


(*) Rượu làng Nhân
Viết bên lề bài Đám cưới Bạc, nguyên tựa Rượu làng Vân


Trai làng Nhân giã gạo đầu trăng
Kỳ lạ giã gạo ngủ gật
Mớ gật bay lên trời giã gạo cùng tiên

Gái làng Nhân tãi gạo phơi trăng
Trộn trăng vào gạo
Trộn tình thanh vắt mầu trăng
Hạt gạo cũng mầu trăng

Trai làng Nhân từ tiên về thức
Bế gạo trăng vào nồi
Gái làng Nhân nhóm lửa vú trinh
Rượu cất

Sàng rơm hương trăng giọt giọt
Tình say lịm lịm
Rượu Nhân

Sài Gòn 1.1.1995


034. HỎI ĐƯỜNG

Ngã Ba ở Giữa Đôi Ta (*)
Thơ em anh bỗng đem ra hỏi đường
Người xe xuôi ngược bảy phương
Lối nào dẫn tới yêu thương em chờ?...

Anh đứng ngác ngơ
Áo dài thiếu nữ
Váy đầm cháu nhỏ
Lại qua
Anh đứng ngác ngơ
Áo vàng khất sĩ
Lại qua
Lại qua ông già ba chân
Anh trai mặt lính
Những nụ cười lạnh
Tô đầy son pha
Lại qua…

Ngã Ba ở Giữa Đôi Ta (*)
Thơ em anh bỗng đem ra hỏi đường
Người xe xuôi ngược bảy phương
Lối nào dẫn tới yêu thương em chờ?...
Ngay cả đường trong thơ
Cũng không gần em nhỉ
Thoạt rất nhiều mộng mị
Rồi tràn lan giận hờn
Rồi một chuỗi khổ buồn
Chuyện đồng tiền bát gạo
Chuyện con thơ đau yếu
Nhân tình nhiều thương đau
Phải đâu một nhịp cầu
Vèo sang là tới đích
Duy điều này có thật
Chúng mình thành đôi ta…

Đôi ta ở giữa Ngã Ba
Em đi thẳng đến thềm nhà đón anh (*)

Đường cao vời mây xanh
Hay đường dài sông suối
Khi tình yêu hẹn đợi
Đường xa mấy cũng gần
Nào có ai dừng chân
Ngã Bảy đường rắc rối
Cháu nhỏ không nhỏ mãi
Ông già rồi già thêm
Cô gái tô môi duyên
Nhà tu hành trầm mặc
Có ai dừng chân bước
Không đi cuộc đời mình
Có ai ngại hy sinh
Trước tình yêu kêu gọi
Ôi lớn lao quá đỗi
Cuộc tình sông núi ta

Hề chi ngả bảy ngả ba
Khi non sông hát bài ca xum vầy
Bàn tay nắm với bàn tay
Bao cay đắng để tròn đầy quả yêu

(*) Thơ Lý Phương Liên



033. LƯU TRỮ YÊU

Cái vớ vẩn lục tìm làm sao thấy
Lục tìm lời nộ chiều đông
Tình ươn úp mặt vào vách
Chia khóc với con thạch sùng

Cái vớ vẩn lục tìm làm sao thấy
Anh ngủ vùi lời hứa bình minh
Trể hẹn đưa em đi trẩy hội
Làm sao khoe áo cưới giữa vườn tình?

Cái vớ vẩn lục tìm làm sao thấy
Anh mải vui quên hết dặn dò
Mâm cơm úp lồng bàn lạnh ngắt
Em thu mình trong bóng tối ướt diêm

Cái vớ vẩn lục tìm làm sao thấy
Giặt áo chồng vợ nghe thấy lạ hương
Em vội vàng cõng anh ra sông tắm
Tham tình da thịt hôi thâm

Cái vớ vẩn lục tìm làm sao thấy
Em khóc suối lúc anh ngủ bệnh
Cuốn trôi lưỡi hái quỷ thần
Anh hồi sinh trong cười em vàng óng

Cái vớ vẩn là vớ vẩn của riêng em
Chất đẩy trong lưu trữ tình
Lưu trữ tình trong tim
Làm sao anh có thể lục tìm?

Học yêu học yêu mà tìm
Bỗng nghe lời nổi lời chìm ru say
Anh lùa tóc rối run tay
Hát em thong thả giãi bầy học yêu...


032. BÀI RU TRẰN TRỌC

Trằn trọc là trằn trọc ơi
Đêm đã khuya rồi sao chửa ngủ say
Trằn trọc bẻ khục ngón tay
Ai đè ngực xuống để rây điệu buồn

Vì sao trằn trọc lại buồn ?
Chuyện đời nước chảy trôi luôn bọt bèo
Lỗi lầm nước đã cuốn theo
Đời người tránh được bao nhiêu lỗi lầm

Đêm tôi chỉ có một mình
Một mình đêm
Với một mình trằn trọc tôi
Dối gian trôi khuất bể rồi
Ngủ đi mắt cho thảnh thơi tâm hồn

Việc gì trằn trọc phải buồn
Ở ống dài ở bầu tròn trằn trọc ơi
Quanh ta hỏi có bao người
Gian manh mà vẫn sống đời tụng ca

Mình lỗi lầm chút gọi là
Đời không chật chội như nhà ta đâu
Tôi nhắm nghiềm mắt hồi lâu
Mới hay cái ngủ từ đầu ngủ ra

Nếu đời ta chẳng thẹn ta
Thì ta cứ ngủ
Cần gì ru tâm hồn
Mặc ai dài, mặc ai tròn
Người khác với vật bởi còn cội tâm

Tôi ru trằn trọc rì rầm
Trằn trọc vẫn thức với lỗi lầm hỏi tôi...


031. LÁ THU 


Phải chăng mỗi phiến lá
Rơi trên đường ta đi
Đều nói cuộc tình si
Của chúng mình em hỡi

Lá rơi trong nắng chói
Và rơi lúc chiều tàn
Nhuộm cả khúc đường vàng
Cho chân ai bối rối

Phiến lá mà anh nói
Trong triệu muôn lá rơi
Mỗi lá một cuộc đời
Bao nhiêu ngày xanh nhỉ?

Những ngày xanh hùng vĩ
Diệp lục cho cây đời
Giông gió thổi tơi bời
Lá vẫn tươi đời lá

Cuộc đời lá đẹp thế
Rơi xuống đường còn lăn
Còn rực lên ánh vàng
Trước khi khô chết hẳn.


Autumn leaf


Could it be that every leaf falling on our path

Whispers the story of our deep love and passion?

Many leaves fell from the bright sunrise till the gloomy sunset
Most parts of the road they dyed in yellow

And made one’s steps feel confused.
The one leaf I speak of

One among thousands, millionsof falling leaves
A leaf with a life of its own
For how many green days did it exist?

During splendid green days

The leaf offered its color to the life of a tree
Throughthunderstorms, through gales and tempests
The leaf survived proudly.

This leaf lived such a beautiful life!
While falling, it spun, and rolled over and on to the street
Still bright with its last reflection of yellow
Before it was dried completely, and died.


(Anh ngữ Nicholas James Steiner)


030. NHỮNG NẾP NHĂN ĐUÔI MẮT


Những nếp nhăn đuôi mắt
Gợi cái nhìn dao cau
Trao cho mối tình đầu
Không một lời tính toán

Cây đã xẻ thành ván
Ván đã đóng nên thuyền
Thương quá cuộc đời em
Về làm cây sao được

Những nếp nhăn đuôi mắt
Trao bao mùa xuân yêu
Nương dâu nắng nhuộm chiều
Lá vàng reo đầu gió

Sợ gì đời bão tố
Chỉ sợ chính mình thôi
Miệng biết ngạo nghễ cười
Thổi bay đi cơ cực

Những nếp nhăn đuôi mắt
Chợt thấy người trong gương
Ai mà sao rất thương
Có một thời xuân sắc

Những nếp nhăn đuôi mắt
Bạn tình mai sau ơi
Khi mùa xuân mất rồi
Tiếc hoài trong vô vọng

.
/ CÒN TIẾP/ 7/
99 KHÚC TĂNG LIÊN

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

Nguyễn Minh Khiêm viết về thơ NNB


Sự thăng hoa và bút pháp hiện đại trong "99 KHÚC TẶNG LIÊN"(*) của nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy

Nguyễn Minh Khiêm

Mới. Lạ. Mở. Gợi. Dạt dào cảm hứng. Ý tứ mênh mang. Chữ như mây vỡ. Rất thực mà ảo. Rất ảo mà thực. Tình chắp cánh cho trí bay lên. Trí làm cho tình găm lòng người ở lại. Ông viết như mê. Ông viết như say. Ông viết như không. Ông viết như chơi. Không khuôn mẫu. Không lập lại. Biến hóa. Sáng tạo. Sáng tạo mà không cứng. Nhuần nhuyễn. Đầy chất thơ. Đầy chất thi sĩ. Đó là cảm nhận bao trùm nhất khi đọc “ 99 khúc tặng Liên” của nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy.

“ 99 khúc tặng Liên” mỗi khúc là một tâm trạng. Mỗi khúc là một gửi gắm. Mỗi khúc là một góc nhìn, trải nghiệm, suy ngẫm. Dù ông “Nam mô trời”, ông “Nam mô đất” hay “ Nam mô người”, dù ông “ Viết trên giường bệnh”, “ Bất ngờ Picasso”, “ Tụng trăm ngày bạn” hay ông viết “ Lục bát chiều”, “ Từ Thức bơ vơ”…Khúc nào cũng da diết nỗi đời, nỗi người, nỗi nhân tình thế thái. Phải trường cảm xúc, trường vốn sống, từng trải, giàu trí tuệ, hiểu thơ mới, sâu thơ cũ mới đọc được thơ ông. Ông có nhiều câu thơ đẹp. Hãy đọc những câu thơ này của ông: “ Tóc lau ngồi nín cời than” ( …); “ Xin mẹ hãy nghỉ tay dệt nắng/ …/ Xin mẹ về đầu cầu dải yêm” ; “ Xin cha cưỡi thuyền cỏ mật/ Về lại bến quê Sông Cái Mỉm Cười” ( Tụng trăm ngày bạn ). Đẹp đến sững sờ. Đọc một lần cứ muốn đọc lại. Dưới con chữ có cái gì đó ngời lên lấp lánh. Dư âm không hết. Hệt như uống chén trà ngon. Cạn chén rồi mà cổ họng cứ ngọt mãi.
Cùng mô típ ấy, trong bài “ Nam mô Tết”, ông viết: “ Thơ cứ thả lên trời cho Văn Miếu ấm/ Chữ ông đồ cứ đóng oản đồ xôi”. Thơ ông giàu có về hình ảnh. Hình ảnh này gọi hình ảnh kia. Hình ảnh chồng lợp lên nhau, giao thoa nhau. Một tầng. Hai tầng. Nhiều tầng. Câu chữ sống động. Sự biểu cảm phong phú. Đa thanh. Đa sắc. Nó như một bức tranh trừu tượng, ấn tượng, siêu thực. Cảm được cái hay. Cảm được cái đẹp. Nhưng chỉ ra từng cái hay cụ thể, chỉ ra từng đẹp cụ thể thì khó. Tách bóc ra từng lớp lang ý nghĩa, từng lớp lang nghệ thuật thì khó. Cách viết của ông không giống ai. Không gồng lên. Không cố tạo khác biệt. Ấy thế mà trộn vào đâu cũng không lẫn. Rất khác biệt. Có người cả đời muốn tạo được dấu ấn riêng, muốn được thấy cái thằng mình đứng riêng ra nhưng lại cứ nhập nhòa trong bóng người khác. Nhưng “99 khúc tặng Liên” của Nguyễn Nguyên Bảy có nhãn mác, có hương vị đặc trưng riêng biêt. Thơ ông bốn tiếng có. Năm tiếng có. Lục bát có. Vắt dòng, leo dòng có. Tự do có. Thơ văn xuôi có. Nó không tách bạch nhau. Nó lồng quện trong nhau. Hình như ông không định vị chữ, không định vị câu. Ông để cho con chữ tự do bung nở. Câu là chỗ tận cùng sung mãn của chữ. Nếu đọc không kỹ, ta rất dễ cho rằng ông dùng chữ dễ dãi, đôi chỗ nôm na, câu lỏng, ý không chặt, trục logic mờ. Nhưng nhìn lại tổng quát 99 khúc trong tập mới thấy khả năng làm chủ ngôn ngữ tuyệt vời của ông. Nó tung tẩy. Nó nhảy múa. Nó bay lượn. Nó lặn hụp. Nó làm chủ mọi góc độ, làm chủ mọi hoàn cảnh. Tất cả chuyển động mãnh liệt, chặt chẽ quanh một cái trục logic duy nhất là tâm hồn ông, xúc cảm của ông. Nó liên kết bởi logic tâm hồn ông. Tất cả ngôn ngữ, hình ảnh, giai điệu chuyển động quanh cải trục vĩnh cửu của thi ca ấy.
Không thấy ông tuyên ngôn gì về thơ. Chỉ có hai câu thơ văn xuôi đầu tập và thỉnh thoảng điểm lại ở một trang nào đó như một lời đề Từ “ Trả lại hết sướng vui nạn ách. Chuyền tay chữ hát xuống thuyền. Thung thăng ngược bến cỏ non../ Là khi anh nói về em. Bông hoa trước cửa tự nhiên nở bùng. Trên cành một giọt sương rung. Gió nhẹ vô cùng thổi mãi không rơi”…Cách hành văn này, kết cấu này, lập ngôn này chi phối toàn bộ “ 99 khúc tặng Liên”. Đậm nhất là bảy khúc “ Nhật ký Seattle”. Nói là lạ hẳn thì không lạ hẳn. Nói là quen thì không quen hẳn. Câu thơ vừa có phong vị đồng dao, vừa có phong vị ca dao tinh tế trong Quan Họ bắc Ninh, vừa có cái suồng sã mộc mạc duỗi dài thể thơ sáu tám của những điệu vọng cổ Nam Bộ. Từng chữ thì rất Việt. Nhưng thiết chế ngôn ngữ lại rất Tây. Nếu không thẩm thấu thơ văn xuôi của Hàn mặc tử, không thẩm thấu các trước tác của Franz KafKa, không thẩm thấu Thơ Dâng của Rabindranat Tagore tôi tin, Nguyễn Nguyên Bảy không viết được bảy khúc Nhật Ký Seattle thăng hoa với bút pháp hiện đại thế. Tôi cứ bị hút vào những câu thơ thế này : “ Đêm trắng, nghĩa bóng trắng như tờ giấy. Thổi chữ vào giấy. Thổi chay./ Không ra văn vần không ra văn xuôi. Chỉ thấy chữ múa chữ hát chữ hôn chữ làm tình chữ gục đầu chữ khóc/ Hello những chữ là chữ. Đầy một hồn. Nghĩa đen là đầy một óc/ Thế mà sáng hoe sáng hoe chỉ còn thấy duy nhất một từ Hello em” ( Hello! )/…/ “ Trời Seattle trong như nước mắt. Nắng Seattle lịm như rượu vang. Gió Seattle thơm như hồn hoa. Giôn bật nói. Chúng ta không bao giờ (nevơ) hello chiến tranh. Nevơ. Nevơ…/…/ Bát canh cần từ Việt nam sang thưa với bố chồng, con là họa sĩ. Con muốn vẽ nước Mỹ của chồng con chỉ bằng một chữ hello”( Hello). Câu thơ như một nốt nhạc có dấu trường ngân. Nó không phải là thứ phù hợp với ca sĩ đoản giọng.
Đọc bảy khúc Nhật ký Seattle của ông chạm được vào nhiều thứ. Tình yêu có. Tình người có. Tình đời có. Nhân văn có. Văn hóa có. Niềm tự hào dân tộc có. Nước Mỹ có. Châu Phi có. Châu Âu có. Châu Á có. Người Việt Nam tha phương có. Đành rằng Nhật ký Seattle cái vỏ là ghi chép, là tốc ký cái những giác quan nhạy bén nhất của ông chớp được, nhưng nhiều câu nhói lắm. Nhói cho cả một dân tộc: “ Tôi nhặt từng hạt buồn còn vương trong mắt em. Xếp cẩn thận những hạt buồn vào bị cói. Đeo lên vai…”/…/ Lạc lõng chưa, chúng tôi đến chợ vai quảy bị cói hạt buồn”./…/ “ Than thở chỉ vừa lóe đã thấy cô gái da trắng, tóc vàng phủ bờ vai nõn, nhìn chằm chằm mắt vợ tôi nài nỉ xin đổi hạt buồn/ Để làm gì? Để đêm nay, sau một ngày hội hè vui đẫm, tôi có chốn nhớ về buổi chiều đen thẫm ấy, buổi chiều định mệnh tôi xuống tàu chạy trốn Vacxava tìm đến thiên đường Mỹ. Chỉ những hạt buồn mới giúp tôi trở về gặp lại tiếc buồn đánh mất hôm qua”. Và nẫu nuột khi trong lòng trống rỗng, ông buông một câu “ Buồn là đặc sản Việt cớ sao ông bà đem ra chợ trời rao bán?”/…/ “ Còn ngươi, ngươi đã sỉ nhục cây đàn cò vốn sinh ra cho người khiếm thị, lạy ông đi qua lạy bà đi lại, xót thương kẻ mù lòa, ngươi sáng mắt, ngươi còn tay còn chân, ngươi còn lưỡi, vậy mà ngươi lại mượn nỗi buồn đui mù hèn hạ đổi lấy chất dư thừa thương hại./ . Nhị xẩm cúi đầu câm lạnh”. ( Bán buồn ở Chợ Trời Seattle”. Đó là những câu thơ thức tỉnh không chỉ một con người. Nó động đến cả một dân tộc.
Ông không tuyên ngôn nhưng hình như với ông, niêm luật vần điệu chặt chẽ truyền thống cũ là tĩnh; thể thơ bốn, năm, bảy tiếng nghiêm túc , bất biến là tĩnh. Ông không chấp nhận cái tĩnh, không chấp nhận cái công thức, cái khuôn mẫu, khuôn mẫu đến mòn vẹt, đến nhàm chán, đến bảo thủ. Cuộc sống rất động. Tình yêu rất động. Tự nhiên rất động. Tâm trạng, nỗi niềm con người rất động. Thơ cũng phải rất động. Quan trọng hơn tất cả là, ông có cái nhìn rất động. Chính cái nhìn rất động ấy giúp thơ ông không lập lại, không bất biến, không xỉa vào vết xe người khác.
Ngay đọc tên tập thơ “ 99 khúc tặng Liên” ta cứ tưởng cái tên Lý Phương Liên, nhà thơ, người vợ yêu quý của ông sẽ tràn ngập câu chữ như cái tên Ensa tràn ngập trong thơ Aragon. Nhưng không. “99 khúc tặng Liên” là ông tặng trọn vẹn tâm hồn ông, trí tuệ ông, ký ức ông, sự chiêm nghiệm tinh túy, sự thăng hoa của ông. Đấy cũng là một độc đáo.

Thanh Hóa. Ngày 22.12.2012
(*) NXB Văn Học ấn hành 10.2012

Bài Nguyễn Minh Khiêm/ Tác giả gửi bài

Sách 99 khúc/ tứ 049-040

  NGUYỄN NGUYÊN BẢY
Thơ

99 KHÚC TẶNG LIÊN


NXB VĂN HỌC

Bỏ lại hết sướng vui nạn ách. Chuyền tay chữ hát xuống thuyền. Thung thăng ngược bến cỏ non..
Chở gió về đoàn tụ. Chợt gót hồng bước ra từ mai nụ. Tiếng gọi tình ấm ngát không gian…


THỨ TỰ 6: 049. Nét Huế/ 048. Hải Vân/
047. Biển đổ chiều/ 046. Gặp mừng/ 045. Thị xã biển/ 044. Dạo chơi chập tối/ 043. Gọi chim/ 042. Cổ tích con cháu/ 041. Sông cái mỉm cười/ 040. Hoa đỗ quyên.


Sách 99 khúc/ tứ 059-050


NGUYỄN NGUYÊN BẢY
thơ

99 KHÚC TẶNG LIÊN

 
 

NXB VĂN HỌC

Bỏ lại hết sướng vui nạn ách. Chuyền tay chữ hát xuống thuyền. Thung thăng ngược bến cỏ non..
Chở gió về đoàn tụ. Chợt gót hồng bước ra từ mai nụ. Tiếng gọi tình ấm ngát không gian…


THỨ TỰ 5: 059. Học khóc/ 058. Tự họa tuổi trưa/ 057. Tự thuật bốn đoạn/ 056. Ru ba khúc/ 055. Bến đợi/ 054. Ngã Tư/ 053. Đêm ngủ cội bồ đề/ 052. Diều hồn/ 051. Qua sông Hiền Lương/ 050. Cát trắng nhấp nhô

Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2013

Đọc 99 Khúc Tặng Liên/ Thơ Nguyễn Nguyên Bảy


99 KH
ÚC YÊU THƯƠNG
 
(Đọc 99 Khúc Tặng Liên/ Thơ Nguyễn Nguyên Bảy)

Hoàng Việt Hằng

Chẳng thà về ở ẩn với thơ/ Nguyễn Nguyên Bẩy đã từng viết như vậy, nhưng mới đây anh vừa ra mắt bạn đọc  99 khúc thơ tình tặng Liên (nhà xuất bản Văn Học năm 2012). Thơ anh đầy ắp tình nghĩa quê hương, da diết với mùa đông Hà Nội, nóng bỏng  mùa hè yêu thương và nhân ái với một  nửa của mình. Nhà thơ Lý Phương Liên, người đã cùng anh/ trả hết sướng vui nạn ách/chuyền tay chữ hát xuống thuyền. Người mà /anh ôm em đầy một ngực. Tác giả đã chan cả đau khổ  vào thi ca, tình nghĩa vợ chồng, chan vào nhân gian  những câu thơ đắm đuối vì con người.  
Thơ Nguyễn Nguyên Bẩy lấy lý do 99 khúc tặng Liên, nhưng thực ra thơ anh bơi sải rất rộng, ngoảnh lại ký ức, nhìn trực diện vào không gian sống và những bước chân xê dịch của mình khi cùng vợ, khi cùng chát với con gái, con trai . Anh phiêu bạt vào Sài Gòn mà tháng 12 lại khắc khoải nhớ Hà Nội/anh thợ điện người Ô Quan Trưởng/bới nhặt nửa mình trong đổ nát Khâm Thiên.Vịn cớ anh thợ điện nhặt nửa mình thôi trong ký ức xa xót của 12 ngày đêm Hà Nội, thời gian đã lùi xa cuộc chiến. Một nửa  mình còn tìm bới chưa thôi nỗi đau. Phải hiểu trái tim đau của nhà thơ, của người cầm bút không có năm tháng, vẫn bồi hồi nhớ về những ngày qua.Bồi hồi. Ngày trẻ khi anh nói/ấy là lẽ tôi nói lời yêu em/ biết là mình đáng sống. 
Câu thơ như thức ngộ một giá trị sống cho tình yêu, nó quý giá nhường nào . Dù năm tháng xưa, sống trong thời bao cấp chúng ta thời đó đâu có dễ dàng gì. Ở bài đoạn sống có năm tháng Lý Phương Liên phải đi trông xe đạp, đi làm thợ, rồi  đi mua vải, để chồng làm thợ may, cắt theo mẫu bìa hàng loạt.Câu thơ thương vợ chẳng giấu diếm/thương vợ mòn chân đi ký gửi hàng/học Tú Xương ơn ca cò lặn lội.Hoặc anh biết cả/em cầm phần nước mắt chứa buồn/tứa hết ra lau chùi ký ức.
Khi xê dịch sang Seattle, Nguyễn Nguyên Bẩy vẫn hồi ức về quê hương, và thức ngộ/mới hay lòng người diệu vợi hơn thời gian không gian…/đu tình nhún bổng trời xanh. Những câu thơ nghiêng về tự sự vẫn hướng tới quê nhà, thuần việt.
Tản mạn hơn khi chát với con gái diệu, Nguyễn Lý Phương Ngọc, Nguyễn Nguyên Bẩy viết đủ độ thấm/con xa nhà lúc  cha mẹ hoàng hôn/có cách nào cha giải mã nỗi buồn. Và dạy con gái phép nhân nghĩa ở đời qua câu thơ gợi mở/ nghĩa đời vay trả/ dù chỉ một đồng tình cũng phải nhớ tri ân.
Một đồng tình gói trong câu thơ nhưng về nghĩa thì rất đắt trong nhân cách ở đời. Hiếm có cách dạy con gái qua thơ vượt qua bờ biển Thái Bình Dương rộng lớn ngàn trùng , mà người cha không quên, không quên dạy con nhân cách sống rất  kín nhẽ này. Cũng chỉ vin bát canh cần để nói sự gần xa ở đời, cũng vin vào  mưa ở Seattle để nói sự rộng lượng của lòng người. Đứt nối ở mưa, rộng mở lòng người tùy vào lòng mình hướng nội/chuông mõ chìm trong tiếng WOW/mưa nơi nào chẳng giống nơi nào.và/mở lòng đi mưa?.Câu thơ như khát khao sự cởi mở ở miền đất mới đặt chân đến , lạ lẫm, chầm chậm bước hiu quạnh, của người xa nước.
Có khúc thơ tặng vợ rất lạ ở khúc Cầu Hôn/anh hứa đôi ta là mùa gặt/nếp cho đời là nếp cái hoa vàng/tẻ cho đời là tẻ xoan tẻ dự. Là người đọc nhiều, đi nhiều của một thời làm báo Đài tiếng nói Việt Nam, thơ anh hướng tới lúa non, phên giậu quê nhà. Cũng thành khẩn chân thành , tôi dám chắc chị Liên biên tập  đã tha bổng câu thơ tự thú này/chợt có lúc anh lạc mê lạc lú/em hãy là Bồ Tát khoan dung. Phong cho vợ hãy thử rộng lòng như Bồ Tát mà xem, em tha hết. Lý nào lại không tha, dù “ai cũng có phút  giây ngoài chồng ngoài vợ” . Thơ viết hóm, nhận lỗi bằng thơ thế này ,thiển nghĩ dễ có hai lần, chứ ba lần chân anh bước lạc, Lý Phương Liên chị cũng tha bổng cho thơ khi lòng đã là Bồ Tát. Ở bài Thư Tình Đầu  Đời, gần chót tập anh viết rất tung tẩy,câu thơ như bay bổng/anh đâu phải lâu đài trên cát biển/nước triều lên sẽ cuốn nát tơi bời/ anh đến với em da thịt của đời/ mắt tin yêu và nụ cười sự sống.  Và /anh muốn nói về tình yêu thứ nhất.Cũng có thể vì sự duy nhất này, đắm đuối này mới có  trong đám cưới bạc với vợ chồng Lý Phương Liên, Nguyễn Nguyên Bẩy. Cả anh và chị lẽo đẽo với thơ ca, vì thơ ca và vì bạn thơ, anh chị cũng đã góp sức làm nên những  tập thơ bạn thơ , thơ hay để đời cho thế hệ sau. Đó là cái tình cái duyên của nhà thơ,thi sỹ, trân trọng thi ca , trân trọng giá trị đích thực của yêu thương con người trong cõi người.


Hoàng Việt HằngNguồn: PNVN 28.12.2012

Sách 99 khúc/ tứ 069-060



NGUYỄN NGUYÊN BẢY
thơ

99 KHÚC TẶNG LIÊN


NXB VĂN HỌC

Trả lại hết sướng vui nạn ách. Chuyền tay chữ hát xuống thuyền. Thung thăng ngược bến cỏ non.. Chẳng thà về ở ẩn với thơ. Cắt tóc tu tấm lòng thương nước. Phận người hung cát mặc ai. Mặc xã tắc khảm ly nhăng nhít…

THỨ TỰ 4: 069. Mưa Seattle/ 068. Lời tóc cỏ lau/ 067. Nam mô Tết/ 066- o60: Nhật Ký Seattle, 1 Hello!/ 2 Seattle Đang Thu/ 3 Chùa Việt ở Seattle/ 4 Tuần Trăng Mật Kỳ Lạ/ 5 Bài Tình Viết Chung Từ  Vịnh Alki/ 6 Bán Buồn Ở Chợ Trời Seatte/ 7 Một Mình

Sách 99 khúc/ tứ 079-070

NGUYỄN NGUYÊN BẢY
thơ

99 KHÚC TẶNG LIÊN


NXB VĂN HỌC


Trả lại hết sướng vui nạn ách. Chuyền tay chữ hát xuống thuyền. Thung thăng ngược bến cỏ non..
Chẳng thà về ở ẩn với thơ. Cắt tóc tu tấm lòng thương nước. Phận người hung cát mặc ai. Mặc xã tắc khảm ly nhăng nhít…

THỨ TỰ 3: 079. Vào chùa / Trung tu chùa/ 078. Tụng Khổn/ 77. Ngưỡng Phật/  76. Thánh Thơ/  075. Thu xa quê/  074. Một chiều/ 073. Lội về thu ngâu/ 072. Miền yêu/ 071. Ba ngọn gió quê/ 070. Ba khúc dâng Mẹ