Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2012

Tình thơ,


Tình thơ,

Kính gửi chị Lý Phương Liên!
Sáng 26-3 vừa rồi trong buổi sinh hoạt thường kỳ của CLB Haiku Việt, tôi vinh dự được nhà Thơ Hoàng Xuân Họa trao cho tập thơ “Ca bình minh” của chị Lý Phương Liên. Cầm trên tay tập thơ thật đẹp tôi vô cùng xúc động. Cách đây gần hơn 40 năm tôi đã đọc thơ chị, lúc đó tôi đang là sinh viên lại học ở nước ngoài, tôi không nhớ đã đọc thơ chị ở đâu, chắc là trên báo văn nghệ, chỉ nhớ rằng hồi đó chúng tôi rất thích mà hình như hồi đó thơ chị đã là một hiện tượng thì phải. Về nhà tôi đọc liền một mạch hết tập thơ và thấy rằng không chỉ riêng “ca bình minh” mà cả mấy bài khác nữa cũng rât quen thuộc. Như bài “em mơ có một phiên tòa” “thư gửi người bạn Mỹ”, “xóm nhỏ”…Cuộc sống thật bộn bề nên sau đó chị đi đâu, làm gì, sao không ra thơ nữa tôi cũng không được rõ. Cầm trên tay tập thơ do NXB văn học ấn hành tôi như gặp lại người bạn cũ. Lại được ngắm những bức họa do con gái Phương Ngọc của anh chị vẽ thật là một gia đình thơ – họa quấn quýt. Gần đây được đọc những bài tiểu luận “thủng thẳng với thơ” của anh Nguyễn Nguyên Bảy trên trang Blog Bích câu thơ mà nhà thơ Xuân Họa post lên tôi hiểu về thơ, hiểu về anh chị hơn vì tôi vốn là dân ngoại đạo, còn thích thơ, yêu thơ thì đã là người Việt Nam ai cũng thế phải không ạ?


SDC10005.JPG

Nhà thơ Phùng Gia Viên, dịch giả tiếng Nhật - nhà thơ Lê Thị Bìnhvà nhà giáo - nhà thơ Nghiêm Xuân Đức (người đứng)
Ảnh: Hoàng Xuân Họa

Âu cũng là cái duyên cho những tâm hồn gần gũi. Đọc thơ chị tôi thấy một tâm hồn trong sáng, hồn nhiên đúng với lứa tuổi chúng ta hồi đó (tôi nghĩ rằng chị cũng trạc tuổi tôi- tôi sinh năm 1949- Tuổi con trâu). Sống hết mình và yêu e lệ nhưng trong sáng hết mình, không vụ lợi. Tôi thật thích và xúc động khi đọc những bài thơ nói về tình yêu của chị, tôi đã khóc ròng khi đọc bài “xin phép mẹ đi lấy chồng” của chị. Chị Liên ơi dù có thế nào tôi vẫn nghĩ chị là người hạnh phúc nhất vì có người chồng hiểu, sẻ chia và chắp cánh cho chị. Lại có con gái vẽ đẹp và tôi cảm nhận tranh của cháu cũng nhân hậu như thơ chị.
Tôi cũng không hiểu vì sao chị bị “đánh” mà rồi chị biệt tăm đến tận 40 năm? Dài quá, tiếc quá, bây giờ lứa chúng ta đã vào lứa tuổi trên 60 rồi. Nhưng tôi nghĩ rằng cái thời “ấu trĩ” đã qua- hy vọng là thế. Rất mong được đọc tiếp những trang thơ mới của chị, tôi tin rằng thơ chị bây giờ sẽ là những “quả chin”, sẽ ngọt ngào nhân hậu như người làm ra nó vậy.
Nhân đây tôi xin “múa rìu qua mắt thợ” tặng chị mấy câu như sau:
Sen Thơm trong đầm
Cánh trắng, hồng mềm mại
Chân dầm bùn
Mà nhụy vàng, hương ngát
Gió dập, mưa dồn
Đài hoa xây hạt
Cành sen cũng lấm tấm gai
Nhưng không làm đau ai
Tạo dáng cho sen thêm cứng cáp
Đông tàn, xuân qua
Lá hoa lại ngoi lên mặt nước
Chào đón nắng hè
Tỏa ngát đường qua.

Hà nội, 5-4-2011
Kính chào chị.
Lê Thị Bình
Le Thi Binh"
Bạn Lê thị Bình thân mến, 
Lý Phương Liên tôi chân thành cảm ơn những lời thăm hỏi chia sẻ của bạn. Chúng  ta đã là bạn thơ của nhau tứ nay và mãi mãi. Bình nói thích bài Xin phép mẹ đi lấy chồng, mình chép lại dưới đây, như một món quà nhỏ kết giao tình bạn. Liên sinh năm 1948, con chuột xấu xí ấy mà...


XIN PHÉP MẸ ĐI LẤY CHỒNG

Con gái mẹ đến tuổi lấy chồng
Mà không có cái may như người khác
Sao mẹ cha lại mất
Con côi giờ biết hỏi ai
Trong yêu đương không lẽ có rủi may
Dẫu vậy con vẫn đi lấy chồng, thưa mẹ...

Hãy chọn người tử tế
Hãy chọn người con trai không tầm thường
Hãy chọn một tấm lòng thực sự biết yêu thương
Tấm ảnh mẹ trên tường nhìn con lặng lẽ
Sao nước mắt lại nhiêu đến thế
Con thèm nghe tiếng mẹ thầm thào...

Anh ấy cao cao
Căn nhà cao đồ đạc thường cũng mát
Vẻ thông minh thu vào đôi mắt
Nốt ruồi cửa miệng làm duyên
Anh đến với con choáng ngợp phút đầu tiên
Là đôi mắt say và nụ cười như nói

Sau choáng ngợp con cảm mình tội tội
Hoài nghi thời buổi vàng thau
Những người mới yêu nhau
Khó phân biệt thanh cao và tầm thường vô nghĩa
Có tâm hồn làm tim đập thiết tha
Chẳng dám đặt cho mình những tiêu chuẩn mộng mơ
Em chỉ xin trái tim mách bảo
Mà tiếng trái tim thì khi chân khi ảo
Một lá thư tình cũng đủ hân hoan
Một lỗi hẹn đủ giận hờn
Một cách xa đủ làm đau nỗi nhớ...

Con chỉ ước được cầm ngọn gió
Nhưng không phải ngọn gió Lào
Ước anh là một cánh chim chao
Nhưng đừng lỡ là chim cu đất
Ước anh là con thuyền buồm căng lồng ngực
Gió hát ca và anh vững tay chèo...

Con chẳng muốn những hẹn thề trang trọng lúc yêu
Thích thề thốt bởi sợ mình dối trá
Con không thể là khung treo tranh vẽ
Áo quần lòe loẹt chân dung
Con khao khát tình yêu chảy mãi suối nguồn
Qua sỏi đá rong rêu đổ ra sông vào biển
Duyên số của trời đã mang anh đến
Giống điều mẹ mong giống sự con chờ
Biết đâu trời đãi kẻ khờ
Hạt mưa rơi xuống vườn hoa mẹ nhỉ
Dù không thế cũng đành thôi thưa mẹ
Chúng con quấn nhau xin làm vợ làm chồng...

Rồi thời gian sẽ đáp lời thủy chung
Rồi thời gian biết gừng cay muối mặn
Trong hương thoảng nghe rõ lời mẹ dặn
Cách làm vợ làm chồng sau đám cưới tình yêu...


Lý Phương Liên

Tác giả Rabindranath Tagore




THƠ LỜI DÂNG- GITANJALI
  

GITANJALI CÂU 1-20


1
Vì vui riêng, người đã làm tôi bất tận. Thân này thuyền nhỏ mong manh đã bao lần người tát cạn rồi lại đổ đầy cuộc sống mát tươi mãi mãi.
Xác này cây sậy khẳng khiu, người đã mang qua núi, qua đồi, qua bao thung lũng, và phả vào trong giai điệu mới mẻ đời đời.
Khi tay người bất tử âu yếm vuốt ve, tim tôi ngập tràn vui sướng, thốt nên lời không sao tả xiết.
Tặng vật người ban vô biên vô tận, nhưng để đón xin, tôi chỉ có hai tay bé nhỏ vô cùng. Thời gian lớp lớp đi qua, người vẫn chửa ngừng đổ rót, song lòng tôi thì hãy còn vơi.

2
Khi người ban lệnh cất lời ca, tôi thấy tim mình như rạn nứt, vì hãnh diện khôn cùng; ngước nhìn mặt người, mắt tôi ướt lệ.
Những gì trong tôi lỗi điệu, đục khàn biến thành hòa khúc dịu êm – như chim vui náo nức băng qua biển cả, lòng tôi đê mê giang cánh bay xa.
Tôi biết lời tôi ca làm người vui thích. Và tôi biết chỉ khi khoác áo ca công tôi mới đến trước mặt người.
Lời tôi ca vươn cánh rộng dài bay đến nhẹ vuốt chân người – bàn chân trước kia nào dám ước mơ chạm tới.
Say nhừ vì nguồn vui ca hát, tôi quên bẵng thân mình; tôi gọi người là bạn, Thượng Đế của lòng tôi.

3
Tôi không hiểu lời người đang hát, người ơi! Tôi lắng nghe im lặng, ngỡ ngàng.
Anh âm bản người sáng tạo soi sáng cùng thế giới. Hơi thở cuộc đời trong giai khúc người gieo lan tỏa mọi phương trời. Giòng suối thiêng liêng trong điệu khúc người tấu vượt từng vách đá cản đường rồi băng mình chảy miết.
Lòng tôi khát khao nhập vào bài ca người hát, song hoài công cất tiếng chẳng thành. Tôi muốn nói, nhưng lời lại rã rời, lạc điệu sượng sùng tôi nức nở lệ rơi. A ha! Người đã giam tim tôi trong lưới nhạc trùng trùng.

4
Nguồn sống của đời tôi, tôi sẽ luôn luôn giữ gìn thân xác khiết tinh, vì hiểu đã được người âu yếm vuốt ve.
Tôi sẽ luôn luôn giữ gìn tư tưởng lánh xa mọi điều giả dối, vì hiểu chính người là chân lý đã nhóm trong tâm trí tôi nguồn sáng lý trí.
Tôi sẽ luôn luôn đuổi xua khỏi tâm hồn mọi ác ý sâu xa và vun trồng cho tình yêu trong mình bừng nở, vì hiểu người đã ngự trị từ lâu trong sâu thẳm tim tôi.
Và tôi, tôi sẽ đem hết sức mình phát hiện người trong mọi việc làm, vì hiểu chính sức mạnh của người đã cho tôi khả năng hành động

5
Xin người rộng lượng phút giây cho tôi đến ngồi bên cạnh. Việc đang làm tôi sẽ hoàn tất sau đây.
Xa khuất mặt người, tim tôi bồn chồn, thao thức, và việc làm hóa ra nặng nề bất tận trong bể nhọc nhằn vô biên.
Hôm nay hè đã lại bên song cửa nhà tôi, mang theo tiếng thở dài cùng lời thì thầm nhè nhẹ; và trong rừng cây tươi ngập sắc hoa bầy ong đang nhởn nhơ ca hát.
Lúc này là lúc ngồi im lặng, đối diện với người, trong trầm tịnh, thảnh thơi tràn trề, cất lời ca hiến dâng cuộc sống.

6
Hái bông hoa nhỏ bé này đi, rồi cầm lấy, đừng trù trừ anh ạ. Em sợ hoa sẽ rũ cánh và rơi vào cát bụi mất thôi.
Nếu trên vòng hoa đã kết không còn chỗ thì cũng nên bằng tay mình, anh ạ, qua va chạm đớn đau, ban vinh dự cho hoa mà ngắt hoa đi. Em sợ ngày sẽ hết trước khi em biết và thời gian dâng hiến qua đi.
Tuy sắc chẳng thắm tươi, hương không ngào ngạt, song hãy dùng hoa này mà hiến dâng anh ạ, và hái hoa khi thời gian còn đó, anh ơi.

7
Thơ tôi đã rũ sạch mọi điểm trang loè loẹt, không còn kiểu cách, huênh hoang. Vật trang sức sẽ làm hại tình thân giữa đôi ta, sẽ ngăn cách người với tôi, và khi va chạm thành tiếng xủng xẻng sẽ át cả tiếng người thì thầm.
Trước mặt người lòng hợm hĩnh thi nhân của tôi chết trong hổ nhục. Ôi thi bá thi hào! Tôi đã đến ngồi dưới chân người. Chỉ xin để tôi biến đời mình thành bình dị, thẳng ngay, như chiếc sáo sậy để người phả đầy âm nhạc vào trong.

8
Mặc áo Hoàng tử, đeo ngọc quý quanh cổ, con sẽ mất hết hứng thứ lúc chơi đùa; áo làm vướng vít từng bước chân đi.
Những sợ áo sẽ rách, rồi đất bụi dính vào, con tách mình khỏi nhân sinh cuộc thế, và chẳng hề dám nhúc nhích, cựa mình.
Mẹ, nếu tách con khỏi bụi trần gian trong lành, ngăn không cho con vào hội chợ tưng bừng của nhân sinh bình dị, áo quần mẹ cho sẽ buộc giàng vô ích, mẹ ơi.

9
Ờ, ngươi khùng dại, muốn lấy hai vai mang chính thân mình! Ờ ngươi hành khất, muốn đến ăn xin chính cửa nhà mình!
Hãy đặt gánh nặng vào tay ai đó đủ sức xách mang tất cả, và đừng ngoái lại tiếc nuối bao giờ.
Vừa chạm hơi thở tới, ước muốn trong anh đã dập tắt ngọn lửa trong đèn. Ước muốn ấy phàm trần – chớ lấy quà tặng từ bàn tay ước muốn nhớp thơ. Chỉ nên nhận những gì tình yêu thiêng liêng trao tặng.

10
Chỗ này là thảm hoa để người đặt chân, nhưng người lại đứng đằng kia bên hàng hạ nhân tay trắng, khốn cùng, hèn mọn.
Cho dẫu muốn cúi đầu chào người, lòng kính cẩn trong tôi cũng không thể chạm tới chỗ chân người đang ngừng nghỉ cùng những người tay trắng, khốn cùng, hèn mọn.
Lòng kiêu ngạo chẳng bao giờ đi tới nơi người trong manh quần tả tơi, tấm áo đơn sơ đang cùng đi với những người tay trắng, khốn cùng, hèn mọn.
Tim tôi chửa một lần tìm thấy đường đi dẫn đến nơi người đang bước cùng những kẻ lạc loài trong đám người tay trắng, khốn cùng, hèn mọn.
11
Ca hát thế này mà làm chi! Cầu kinh lần hạt thế này mà làm gì! Bỏ hết đi thôi. Thực lòng anh thờ phụng ai trong xó tối hẻo lánh ngôi giáo thất cửa đóng kín bưng? Mở mắt ra nhìn, anh sẽ thấy Thượng Đế anh thờ không ngồi phía trước!
Người ở nơi kia, nơi nông dân đang vật lộn cùng đất cứng, nơi công nhân đang xẻ đá làm đường. Người đang ở đó cùng họ đổ mồ hôi dưới mưa lũ, dưới mặt trời; áo quần lấm láp, bẩn dơ. Hãy cởi tăng bào, rồi cũng như Người bước xuống đất cằn bụi bậm!
Giải thoát? Đường giải thoát anh tưởng nằm nơi nao? Thượng Đế đã tươi vui khoác vào mình những sợi dây sáng tạo; Người tự buộc Người mãi mãi với chúng ta.
Hãy dứt mình ra khỏi mọi trầm mặc suy tư và để sang bên những hương hoa đang cúng! Có sao đâu nếu áo quần anh lấm bẩn tả tơi? Hãy đến gặp rồi cùng Người lao động cho mồ hôi vã xuống đất cằn.

12
Thời gian cuộc hành trình tôi đi thì dài và đường đi cũng thế.
Tôi ra xe lúc trời vừa tảng sáng, ruổi rong qua bao thế giới hoang vu, dấu chân in trên nhiều vì sao và hành tinh.
Đây là cuộc ra đi xa xôi nhất, cuộc ra đi dẫn tôi đến bên người; cuộc tập dượt phức tạp nhất chính là cuộc tập dượt đưa tới vẻ giản đơn tột cùng của một hòa âm.
Trước khi về tới nhà mình, lữ khách đã phải gõ cửa biết bao căn nhà xa lạ; lữ khách phải lang thang qua bao thế giới bên ngoài cuối cùng mới đến miếu thất sâu thẳm bên trong.
Mắt tôi đã lang thang khắp bốn phương trời trước khi tôi nhắm mắt lại và nói: “Mình đến nơi rồi!”
Câu hỏi và tiếng kêu: “Ồ, nơi nao?” biến tan thành ngàn suối lệ, nhận chìm thế giới dưới sóng xác tin: “Ta tới rồi đây”.

13
Bài ca tôi tới để hát đến hôm nay vẫn chưa được hát.
Đã bao ngày lên dây đàn rồi lại tháo dây ra.
Tiết điệu chính xác vẫn chưa tìm thấy, lời chửa đặt xong. Trong tim chỉ có niềm khao khát khắc khoải mà thôi.
Hoa chưa nở; chỉ có gió đang thở than bên cạnh.
Tôi chửa nom thấy mặt người ấy, chửa nghe giọng nói mà chỉ vắng nghe tiếng chân nhẹ bước trên đường trước cửa mà thôi.
Trong khi dọn chỗ trong nhà cho người ấy, ngày dài đời tôi đằng đẵng trôi qua; nhưng đèn chưa thắp, và tôi chẳng thể mời người ấy vào trong.
Tôi sống với hy vọng gặp mặt người ấy; nhưng cuộc gặp gỡ vẫn chửa đến nào.

14
Ước muốn trong tôi nhiều vô kể và tiếng nói tôi than nghe não nuột, thảm thương; nhưng bằng những chối từ sắt đá, người luôn luôn tránh né gặp tôi; lòng nhân từ nghiêm khắc ấy đã phủ kín đời tôi.
Ngày lại ngày người làm tôi xứng đáng với tặng vật lớn lao giản đơn người ban mà chẳng cần để tôi xin hỏi – này bầu trời, ánh sáng, này xác thần, này trí tuệ, này cuộc đời – cứu tôi khỏi những hiểm nguy của vũng lầy ước muốn.
Có những lúc tôi nán lại thẫn thờ, và nhiều khi tôi bừng tỉnh, hối hả đi tìm đối tượng; song lúc ấy, tàn nhẫn, người đã giấu mặt chẳng để tôi nhìn.
Ngày lại ngày người làm tôi xứng đáng để tiếp nhận hoàn toàn: bằng cách luôn luôn và tức khắc khước từ - cứu tôi khỏi những hiểm nguy của ước muốn mơ hồ, thấp kém.

15
Tôi tới đây để hát hầu người. Trong căn phòng thênh thang này tôi sẽ ngồi vào một xó.
Trong thế giới của người tôi hoàn toàn thất nghiệp; cuộc đời vô dụng của tôi chỉ còn biết rắc reo giai điệu không ngừng.
Lúc nào đến giờ thờ phụng người câm lặng, trong miếu thất âm u, giữa đêm khuya khoắt, xin người ra lệnh cho tôi đứng trước để cất lời ca.
Trong không khí ban mai, khi cây đàn vàng óng đã ngân vang, xin cho tôi vinh dự đến trước mặt người.

16
Tôi đã được mời dự đại hội trần gian; đời tôi thật có ân phúc diệm kiều. Đến đây tôi đã được nhìn và được nghe.
Tại hội vui này, phần tôi là mang đàn dạo khúc; và tôi đã làm hết sức mình.
Bây giờ, xin thưa, đã đến giờ chưa nhỉ để tôi được phép bước vào nhìn mặt người và dâng lời kính lạy lặng thầm?

17
Tôi chỉ chờ tình yêu tới là sẽ dâng trọn thân mình vào tay tình yêu. Đó là lý do vì sao tôi chậm trễ muộn mằn, và vì sao tôi mang tội lãng quên vô tình. Họ tới với phép tắc cùng luật lệ, trói chặt tôi ngay, nhưng tôi buộc thoát tất cả, vì lẽ tôi chỉ chờ tình yêu tới là sẽ dâng trọn thân mình vào tay tình yêu.
Người đời trách chê bảo tôi vô tình; tôi không nghi ngờ là họ có lý khi trách chê như vậy.
Chợ đã tan và việc làm hối hả xong xuôi hết. Những người tới gọi tên tôi mà chẳng gặp mặt đã tức giận bỏ ra về. Tôi chỉ chờ tình yêu tới là sẽ dâng trọn thân mình vào tay tình yêu.

18
Mây đùn mây thành lớp, trời ngả tối. A, em yêu, sao nỡ để anh đứng đợi cô đơn ngoài cửa.
Những lúc nhọc nhằn giữa trưa anh đã làm việc cùng người khác, nhưng vào giờ này, trời tối quạnh hiu, anh chỉ còn hy vọng có em mà thôi.
Nếu không để anh nhìn mặt, nếu cứ bắt anh đứng mãi đợi chờ, anh chẳng biết làm sao sống cho qua những giờ này mưa lạnh, lê thê.
Anh cứ đăm đăm nhìn màn trời xa xa, màn trời âm u, và tim anh nỉ non lang thang cùng ngọn gió nộ cuồng.

19
Nếu em chẳng hé một lời, anh cũng đành lấy im lặng nơi em lấp đầy tim mình rồi nín thinh chịu đựng. Anh sẽ đứng im chờ đợi, như đêm tối có sao canh chừng, như đêm tối cúi đầu kiên nhẫn.
Bình minh chắc thế nào cũng đến, bóng tôi rồi sẽ tan đi và tiếng em sẽ trào tuôn thành nguồn suối vàng óng lan tỏa khắp bầu trời.
Rồi lời em nói sẽ chấp cánh thành bài ca, từ từng tổ chim anh gầy nuôi, bay vút lên cao, và giai khúc em hát sẽ trở thành hoa nở khắp rừng cây tự tay anh trồng.

20
Vào hôm hoa sen nở, hỡi ôi, tâm trí tôi lại lang thang vơ vẩn nên tôi chẳng biết gì. Chiếc chúng tôi cầm rỗng không; bông hoa đứng đó mà tôi không nhìn. Thỉnh thoảng chỉ có điệu buồn rơi xuống người tôi; giật mình tôi choàng khỏi mộng và cảm thấy trong làn gió phương Nam dấu vết êm dịu của một hương thơm kỳ lạ.
Hương thơm dịu, mơ hồ ấy làm tim tôi rạo rực, khát khao; tôi thấy hình như đó là hơi thở nồng nàn của mùa hè đang tìm đường tiến tới vẹn toàn.
Lúc đó tôi chẳng ngờ hương ấy lại gần đến thế, chẳng ngờ hương ấy là hương của tôi, và chẳng ngờ hương dịu thơm tuyệt mỹ ấy đã nở từ lâu trong chính tim mình.

 
Đỗ Khánh Hoan dịch
Tác giả Rabindranath Tagore

Trang Thơ Phùng Hải Yến


TRANG THƠ PHÙNG HẢI YẾN
.

CAO NGUYÊN EM

Cỏ non tơ buồn
nhẫn nại xanh
Đuôi mắt em dài vệt mưa
dài hơi thở
dài nỗi nhớ
Chỉ vô tình lọt trôi mắt ấy
Vụng dại cả đời anh bước lạc cao nguyên.
Dáng em gầy
lọc nắng
lọc gió
lọc bụi trời
Anh miên man gặp miền hư ảo
Bầu trời cao nguyên chưa từng mong manh thế bao giờ!
Em gieo mầm sinh sôi
Lan hài tím nở chùm nỗi nhớ
Em cứ thế
bước đi suốt mùa đông
Vãi nắng vào tia nhìn
Vãi mây vào má lúm
Thản nhiên dùng trăng khuyết làm đò
vớt nỗi buồn u ám,
Em đan kén,
Cao nguyên trôi dày đêm
Anh giăng mắc đời mình như kẻ nợ
trả thơ tri âm…

NẮNG THỔ CẨM

Anh dắt trâu đến hỏi con gái bản bên
Em tức tưởi chạy ào vào khung dệt
Gỡ tấm chăn đêm, ngày thêu tay từng chút
Thẫn thờ ra sân.
Em tung tấm chăn trên dây phơi
Tấm chăn làm sợi nắng lung linh màu
Ôi, Nắng Thổ Cẩm…
Nắng Thổ Cẩm rất gần mà tay không thể với.


THẢO NGUYÊN Ở TRỌ TRÂN GIAN


Thảo nguyên ở trọ trần gian
Còn tôi ở trọ cuối ngàn dặm xưa
Gió kia trọ ở cơn mưa
Trăng kia ở trọ sao thưa, bến giời
Em không trọ ở chơi vơi
Em về ở trọ mồng tơi quê mùa
Lá xanh trọ ở hoa mua
Lá vàng ở trọ cuộc đua bụi trần
Nỗi niềm trọ ở phân vân
Lạnh lùng ở trọ chân trần đêm thâu
Cô đơn trọ ở mưa ngâu
Chia tay ở trọ cơn sầu cố nhân
Ai đi ở trọ dương trần
Lòng như vôi bạc, thủy ngân vào hùa
Bon chen giữa chốn ganh đua
Thật tâm ở trọ được - thua mối tình
Thôi tìm trọ cõi tâm linh
Muộn màng về trọ bên mình, hay ai?
Thâu buồn, đếm cuộc ngắn - dài
Nhớ thương trọ ở bến ngoài long đong
Vết đau trọ ở trong lòng
Phong ba trọ ở thẳng - cong đường đời
Cỏ xanh trọ ở lả lơi
Mùa đông trọ ở tả tơi sương tràn
Thời gian bụi cuốn, mây ngàn
Thảo nguyên ở trọ trần gian,
nặng buồn...


Thơ Phùng Hải Yến

Hoàng Xuân Họa giới thiệu

Quang Dũng – đôi lời bình


Quang Dũng – đôi lời bình

Nguyễn Khôi


Hà Nội vừa kỷ niệm 90 năm ngày sinh Nhà thơ Quang Dũng (tên khai sinh : Bùi Đình Dậu, “Diệm”, quê Phùng ).Ông mất ngày 13-10-1988. Bài thơ Tây Tiến (1948), Mắt người Sơn Tây (1949) được cho là 2 đỉnh núi trên ngọn Ba Vì – xứ Đoài mây trắng…
Về thời gian, đến nay đã có đủ độ lùi để “cái quan định luận” về Nhà thơ Quang Dũng thân yêu của chúng ta.
Mượn cách nói của Người xưa, theo thiển ý của Nguyễn Khôi thì : Về thơ Việt Nam ta tới Quang Dũng thì trên vượt cả Quát – Siêu, dưới làm mờ Tố Hữu, lời lấn Chế Lan Viên, tình đượm hơn Xuân Diệu , hoài niệm sánh Thanh Quan – Huy Cận, khí phách ngang Hữu Loan- Trần Mai Ninh, đẹp đẽ mà cao sang được người đời tôn vinh (yêu đọc) không thua gì Nguyễn Du- Nguyễn Bính.
“Tây Tiến” HAY, Tây Tiến ĐỘC vì nó đượm chất “anh hùng ca- duy tình” của Người Việt Nam ta; còn “Mắt người Sơn Tây” là thiên tình ca về nỗi đau thương bi lụy của thân phận Dân tộc khi bị bọn Thưc dân xâm lược.
Ở “Tây Tiến” có 3 câu thơ để người đời nhớ mãi, đó là :
-Nhớ ơi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
đế ai đó đều muốn một lần Lên Miền Tây- chiêm ngưỡng hòn ngọc phía tây bắc của Tổ Quốc, Và :
-Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm
Đó là 4 cô Kiều ( Nguyễn Kiều Vinh, Kiều Dinh, Kiều Hinh, Kiều Hương, các con ông chủ thầu khoán giầu có ở 68 phố Hàng Bông) có khác nào các thần Vệ nữ trong tranh Ý Đại Lợi thời kỳ Phục Hưng đã vào thơ Quang Dũng , một tuyệt phẩm của “thi trung hữu họa”, một câu thơ nghìn năm mới có được của Thăng Long – Hà Nội, niềm tự hào của quê hương xứ sở…nhưng cũng vì Nó mà Quang Dũng đã mang lụy một thời ? !
Còn “Mắt người Sơn Tây” câu tuyệt tác là “Mắt em dìu dìu buồn Tây Phương”, 2 chữ “dìu dịu” là chữ mắt ” ( nhãn tự) đầy ma lực ám ảnh người đọc, làm tỏa sáng câu thơ…
Tình quê hương ở đây ẩn giấu vào đôi mắt u ẩn của Người đẹp để xoáy vào tâm can người chiến sĩ tưởng vọng về Quê hương (Hà Nội- xứ Đoài) đang bị quân thù chiếm đóng.
Bài “Quán bên đường” được Thi sĩ đặc tả như mối duyên “Thi nhân- Kỹ nữ”, kiểu Tỳ Bà Hành ” cùng một lứa bên trời lận đận” của Bạch Cư Dị xưa, nhưng hoàn cảnh ở đây là loạn lạc, khốc liệt, bi lụy hơn nhiều…Câu thơ “Hồn lính vương qua vài sợi tóc” phải nói đây là thơ “thần”, rất diệu, xưa nay chưa ai viết được như thế .
KẾT : thơ Quang Dũng, so xưa nay, đã thâu tóm được tinh hoa kim cổ, có khác nào thơ Đỗ Tử Mỹ (xưa) đã phô bày đầu cuối, sắp xếp thành vần,khí thơ hào sảng mà nhịp thơ sâu trong, đối ngẫu nghiêm minh , lãng mạn nhưng xa lìa phàm tục, cái ĐẸP đã được đẩy lên tới đỉnh. Thơ Quang Dũng toàn mỹ vượt trội muôn nhà, bút ruổi gió mai,lòng vờn con tạo (heo hút cồn mây súng ngửi trời), như sông Đáy chậm nguồn qua phủ Quốc, xứ Đoài mây trắng nắng vương đầy, muôn dặm vương hương đồng gió núi…để ta đọc mãi cứ bâng khuâng.
Góc Thành Nam Hà Nội 15-11-2011
Kỷ niêm 90 năm ngày sinh Nhà thơ Quang Dũng
Nguyễn Khôi

Những vần thơ lục bát đa mang

Những vần thơ lục bát đa mang

Nguyễn Thanh Mừng

Trần Hoàng Nhân từng thử sức trên nhiều thể loại thơ. Giờ đây anh chọn lục bát để giải trình 'cuộc nhập cư' một niềm thơ từ lòng mình đến lòng người... Anh nhẹ nhàng nhặt lấy cái tĩnh giữa cái động, nét dại khờ giữa cuộc khôn ngoan.

Trần Hoàng Nhân từ nắng gió duyên hải miền Trung đã chọn Sài Gòn - thành phố hào phóng làm nơi lập thân với nghiệp chữ nghĩa. Nghiệp chữ nghĩa của Nhân, như nhiều cây bút Việt, song hành cuộc xông xáo báo chí là tiềm ẩn một ám ảnh văn chương.
Nhà thơ Trần Hoàng Nhân.
Nhà thơ Trần Hoàng Nhân.
Ai cũng biết, sự nhập cuộc và phân thân, bổ sung và loại trừ giữa hai lĩnh vực hoạt động này trong một con người, thật nghiệt ngã. Nhưng thôi, ấy là câu chuyện dằng dặc của cuộc sống và khát vọng, nếu đẩy lên tận cùng bờ cõi của nó, có người khái quát thành chuyện "đời" và "đạo". Có một tâm hồn thi sĩ, vừa rắn rỏi kiên quyết vừa mong manh đa cảm trong con người bộc trực và nhiệt thành này. Trước khi hứng thú trình làng 39 bài lục bát mang tựa đề Người mong khoảng cách để mà nhớ thương hôm nay, hẳn người đọc còn nhớ Nằm im đợi nắng thức của Trần Hoàng Nhân sáu năm trước với những trăn trở giữa những khốc liệt của cuộc mưu sinh mà anh đã thầm nhủ: "Anh tự cứu mình bằng kháng sinh thơ".
Tôi đọc suốt tập thơ thuần những dòng sáu tám của Trần Hoàng Nhân, như đi vào một cung đường đa mang của tuổi trẻ. Nhân đã có hơn mười năm khởi nghiệp và thời gian ấy nằm gọn trong lòng thế kỷ 21 mới mẻ. Con đường của thế hệ Nhân có gì khác với tâm thế của thế hệ trước, “Có không không có thắng thua / Phờ râu mỏi mệt mà xua nỗi đời / Chống thiền trượng đứng chửi trời / Lời mình nói cũng là lời mình nghe”. Nhân nhìn nhận sự cô đơn trong hành trình sáng tạo: “Anh ngồi nhai hết thời gian / Thương mình trở lại thiên đàng mồ côi”.
Con người thơ ấy hãy còn hồn nhiên lắm: “Khóc òa như thuở còn thơ / Tay ôm hạnh phúc mà ngờ nỗi đau”. Nhưng vui hóm ý thức phản tỉnh: “Huyên thuyên toàn chuyện trên trời / Sống như lá mục mà đòi lộc non”. Với niềm ân cần thanh lọc: “Giữ lành giọt ngọt trên môi /. Để không ngậm đắng những lời rỗng không”.
Sài Gòn thế kỷ 21 của Trần Hoàng Nhân đương nhiên khác những năm tháng đã qua của những thế hệ từng khởi nghiệp và thành danh, nhưng những nỗi niềm thiên di và tụ cư, hồi niệm gốc tích và mặc cảm tha hương vẫn có mẫu số chung: “Uống đi rượu đắng tha hương / Giang hồ có lúc về nương cửa chùa”. Tôi hiểu, những từ cổ “tha hương”, “giang hồ”, “cửa chùa” mà Nhân dùng, ở một tâm thế linh hoạt hơn nội hàm nó dung chứa, đã có nghĩa mới hơn.
Quê nhà đã nối mạch thơ Trần Hoàng Nhân bằng những giọt rượu đầy tâm cảm như thế, khi ngoái lại xa kia, đâu đó trong thế kỷ 20 Nhân còn lưu giữ kỷ niệm những trái ổi, đồi sim, cuộc chăn bò ngày hè, phiên chợ Tết, cảnh hát bội sân đình, cậu học trò vương vấn nợ thi ca cùng bạn bè nối kết nhau trong một “bút nhóm” mà những hương sắc lay động đầu đời vẫn không thể phai tàn trong ký ức. Ở đó có người mẹ: “Bóng người ngồi lẫn bóng mây / Tiếng ru thơ ấu rơi ngay bóng mình”. Ở đó có bóng dáng cha: “Giấc mơ vẫn những giấc mơ / Riêng cha chọn kiếp chèo đò trên non”. Và như muôn đời, người con trai ra đi với nợ công danh, dù ẩn giữa một cách nói kiêu bạc, rất Trần Hoàng Nhân: “Nhập cư vai khoác túi nghèo / Hai tay cầm chữ đi gieo nỗi buồn / Xác thân hành khất linh hồn / Câu thơ tuyệt thực vẫn còn vần thơ”. Để cụ thể hơn trong những vòng xe nôn nao ngày giáp Tết: “Cuối năm chuyển bánh xe đò / Mười hai thương nhớ tự cho là nhiều”.
Bìa cuốn thơ lục bát "Người mong khoảng cách để mà nhớ thương".
Như nhiều nhà thơ, tiếp “nhiên liệu” cho nghiệp chữ nghĩa của Trần Hoàng Nhân là những chuyến đi. Nhân đi nhiều, với cái hăm hở và tận tâm của một người trẻ tuổi đam mê. Tôi gặp Nhân dọc nẻo đường Trung - Nam - Bắc, trong cát bụi thiên lý hoặc giữa các hội nghị hội thảo văn chương, sau đó là những đêm rượu lữ thứ thơ ca và âm nhạc, soi vào mắt anh em bạn bè đồng nghiệp tứ chiếng, để rồi: “Tôi về nhặt lấy bóng tôi / Gặp người đi đứng nằm ngồi dưới trăng”. Người làm thơ đương nhiên phải biết “tiêu hóa” cuộc hành trình, phải “ngàn trùng hóa” những khoảnh khắc bất chợt, nói theo cách của Nhân là: “Nhắm nhìn khói, mở nhìn hương / Từ trong vô thức mình tương tư mình”. Cái hiện thực tâm tưởng, Nhân gửi vào những vần lục bát êm dịu mà xác xao: “Ngoài kia lá rụng xuống đường / Như đang gởi nỗi tha hương cho mùa / Người đi đã khẽ khàng chưa / Kẻo làm vỡ tiếng chuông chùa mỏng manh”.
Trở lại với những năm của Nằm im đợi nắng thức, với: “ Đành nằm im ảo vọng / Giấc mơ này đối trọng giấc mơ kia / Những giấc mơ sự sống / Thức giùm tôi lồng lộng nắng trời”, Trần Hoàng Nhân từng tâm sự trong một cuộc phỏng vấn rằng khi nào có hứng thú là viết, in sách tặng bạn bè, chứ mình không làm thơ “chuyên nghiệp”.
Thực ra, cái từ “chuyên nghiệp” hay “nghiệp dư” có vẻ hơi dị ứng với nhiều nhà thơ, không riêng gì Trần Hoàng Nhân. Với Nhân, thơ cũng như mây trời, tình yêu, niềm nhớ thương dọc hành trình đời người, gắn vào nó những từ “chuyên nghiệp” hay “nghiệp dư” đều có vẻ lủng củng. Ta chỉ cần biết, Trần Hoàng Nhân đã sống thực lòng với thơ: “ Tận tâm gió thổi hết chiều / Dốc lòng cây ngã nghiêng theo bóng hình”. Và không cần phân định nhà thơ nhặt nhạnh từ sàn diễn hiện thực đời sống hay nhặt nhạnh từ đời sống hiện thực sàn diễn: “Mặt đen mặt trắng mặt người / Tan nước trong lửa, tan cười trong đau”. Và lắng lòng với sự trở đi trở lại nhiều lần trong con người sôi nổi một lời tự thú: “Thì em vẫn cứ là em / Anh về một bóng ngọn đèn sương rơi”.
Quê hương cũ và cuộc nhập cư mới của nhà thơ đâu chỉ hàm nghĩa từ Phú Yên đến Sài Gòn. Nó diễn ra thường hằng trong nhịp điệu trái tim thi sĩ, bất chợt tự vấn: “Ngóng tìm như thể đường xa / Một hôm mây trắng nhớ nhà về đâu?”, thảng hoặc đặt ra tình huống: “Ở nhà lại tưởng xa nhà / Người mong khoảng cách để mà nhớ thương”. Có phải những giả định ấy sẽ là bóng cây nhỏ, nhịp cầu đơn sơ trên con đường thơ nhiều suối lắm đèo và dằng dặc những nắng mưa? Có một quê hương trừu tượng của nhà thơ là xứ thơ, nơi khởi nguồn và hoàn mỹ những cảm xúc, nhịp điệu của cội rễ và của hương hoa. Trần Hoàng Nhân đã từng thử sức trên nhiều thể loại thơ và giờ đây đã chọn tuyền lục bát để giải trình “cuộc nhập cư” một niềm thơ từ lòng mình đến lòng người. Và theo mong ước khiêm nhường của Nhân, trình làng một tập thơ để tìm những đồng cảm trước tiên trong phạm vi anh em bè bạn, những người thân yêu.
Về để mà đi, đi để mà về là một phương trình nhiều ẩn số của nhà thơ, trong đó có Trần Hoàng Nhân. Với thơ, đôi khi cái mơ hồ nằm ở sự rạch ròi và cái rạch ròi nằm ngay ở sự mơ hồ mà mỗi nhà thơ có cách kiến trúc riêng, phát lộ riêng. Những tác phẩm sẽ tự nói về nó và mỗi độc giả sẽ có cách cảm nhận riêng với cuộc “Nhập cư cả bóng lẫn hình / Bén như dao cắt cuộc tình tha hương” của Trần Hoàng Nhân.
Tôi lặng lẽ dõi theo con đường ấy, bóng một nhà thơ đã và đang để lại trong tôi nhiều sự cảm mến. Một gương mặt trẻ có ấn tượng trong dòng chảy thơ ca hôm nay. Trần Hoàng Nhân nhẹ nhàng nhặt lấy những cái tĩnh giữa cái động, nét dại khờ giữa cuộc khôn ngoan, chút trong trẻo giữa bụi đường mờ mịt… và “Sẵn sàng cho một cuộc chơi / Cơm chay giữa chợ mời người tĩnh tâm”. Tôi cơ hồ chưa nói hết những gì cần phải nói về lục bát Trần Hoàng Nhân. Với bản lĩnh ấy, tôi tin sự lan tỏa sẽ không hề ngưng nghỉ.

Nguồn: eVan

Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2012

Nhìn lại “Hiện tượng Lý Phương Liên” của 40 năm trước




LỜI CHỦ BLOG TRẦN HUY THUẬN:

Đầu xuân Nhâm Thìn, tôi vừa có một vinh hạnh  lớn, được ông bà Nguyễn Nguyên Bẩy – Lý Phương Liên gửi tặng sách. Nói “có vinh hạnh lớn” vì thực chất cho đến lúc này, tôi chỉ là một kẻ viết nghiệp dư, sinh và sống ở một tỉnh lẻ. Được làm quen với những nhà thơ, nhà văn tên tuổi đã là vinh hạnh, nhưng được họ chủ động cho làm quen, rồi chủ động gửi tặng sách thơ, sách văn, thì sao lại không VINH HẠNH LỚN?

Nhưng đấy không phải là duyên cớ để Blog NQCC tôi hôm nay NÓI ĐẾN THƠ LÝ PHƯƠNG LIÊN. Thơ của Bà đã làm kinh ngạc độc giả từ bốn chục năm trước, lúc tôi chưa đến tuổi 40. Rồi Bà LẶNG THINH suốt ngần ấy thời gian. Như nhiều người thuở ấy, tôi cũng nghĩ Bà chỉ là người đứng tên cho ai đấy, cho một NHÀ THƠ TÀI BA nào đấy mà vì lý do này, lý do khác, người ấy đã không thể CHIỀNG TÊN ra – bởi người ta nghĩ: một cô công nhân tuổi hai mươi, làm sao có thể viết nổi những vần TIÊN THƠ ấy! Phải chăng chính vì lẽ ấy mà gia đình Bà đã phải trải qua một thời gian dài “bần hàn, cơ cực”, chính vì lẽ ấy mà tiếng thơ Lý Phương Liên đã phải chìm lắng lâu đến thế?!.
Bây giờ thì LÝ PHƯƠNG LIÊN lại cùng chồng con “xuống thuyền thơ xuôi sông trẩy hội đời“ - Tập thơ CA BÌNH MINH của Bà do NXB Văn Học liên kết cùng Nhà sách Kiến thức ấn hành tháng 2 năm 2011 – Một ấn phẩm đẹp sang trọng, có phần đóng góp của họa sĩ Nguyễn Lý Phương Ngọc – con gái của Ông Bà. Ngay đầu sách, Bà viết: “… Thơ Lý Phương Liên, sau bốn chục năm không tự hoại mà giữa thanh thiên bạch nhật BỐ CÁO PHÁP NHÂN – THT nhấn mạnh”.
Đấy là nguyên cớ Blog tôi hôm nay trân trọng đưa mấy bài viết sau đây về THƠ LÝ PHƯƠNG LIÊN giới thiệu cùng Quý vị.
(Những chữ trong dấu ngoặc kép là trích từ tập CA BÌNH MINH). THT

Nhìn lại
“Hiện tượng Lý Phương Liên” của 40 năm trước

NGUYỄN ANH TUẤN
Em tuổi hai mươi như tất cả mọi người
Chọn số phận ở thời mình đang sống
Lý Phương Liên
Tôi sẽ không gọi Lý Phương Liên là nhà thơ – mặc dù chị xứng đáng và cần được gọi như vậy, nhất là khi danh xưng “nhà thơ” đang bị lạm dụng. Tôi cũng sẽ không dám nói nhiều tới nội dung – nghệ thuật những sáng tác thơ ca của chị, vì “Sau biết bao chìm nổi, nương dìu nhau mà sống, 40 năm sau, tập thơ “Ca bình minh” của Lý Phương Liên và tập “Thơ Nguyễn Nguyên Bảy” ra mắt bạn đọc”, đã có nhiều người viết làm công việc đó một cách công tâm, sòng phẳng. Với tư cách là một người yêu thơ, và là một người bạn vong niên rất lâu của chị, nhân Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII đang diễn ra, tôi chỉ muốn nhìn lại đôi chút về “Hiện tượng Lý Phương Liên” sau một quãng thời gian đủ hình thành dăm bảy thế hệ người viết…
Vào đầu thập niên 70 thế kỷ trước, khi những bài thơ của cô thợ máy Lý Phương Liên xuất hiện đã gây ra những “cơn sốt” trong dư luận. Hồi đó, những người ở lứa tuổi đôi mươi hình như cùng sống trong một “bầu khí quyển” tinh thần đặc biệt của xã hội, đều có thể rung động trước những câu thơ “chói ngời sắc đỏ” của Nguyễn Mỹ hoặc “nhuộm mầu thu vui” xanh rượi tình yêu thương của Lý Phương Liên – nói chung là chúng chẳng khác nhau là mấy, hoặc chỉ là những biểu hiện khác nhau của một tâm trạng chung: cùng một niềm tin yêu rộng mở, cùng một suy nghĩ nghiêm trang, cùng một niềm đắm say ngây ngất trong một hoàn cảnh lịch sử đòi hỏi phải dâng hiến tất cả cho Tổ quốc và Dân tộc đang đứng trước thử thách hiểm nghèo… Chị không phải là một nhà thơ theo nghĩa thông thường. Có thể nói chị là một hiện tượng văn chương, hơn thế,  một hiện tượng tâm lý xã hội, một ánh xạ của tinh thần thời đại, một tiếng vọng chân thực của tinh thần đông đảo lớp trẻ hồn nhiên, hăng hái, say đắm lý tưởng. Cứ mỗi lần đọc lại thơ Lý Phương Liên, những ai có chút tâm hồn lãng mạn thời ấy ( mà ta quen dùng đến nhàm và có phần thái quá là “lãng mạn cách mạng”) đều có thể cảm nhận được cái men sống kỳ lạ ; không ít người đã nâng niu chút men ấy, cái hương vị ấy của tình người để mà sống qua những chặng đời gian nan – dù ở khói lửa chiến trường hay trong chốn sương mù tịch mịch, tất cả đều gìn giữ cái “màu hoa chuối đỏ tươi” (Nguyễn Mỹ) và những “đêm hè trời đầy sao hoa” tận đáy hồn…
Thơ Lý Phương Liên kể về ngôi nhà của chị giống như một “Cái lò tổ ấm năm chị em”, về bảy gia đình trong “Xóm nhỏ”, về “Chị hàng xóm làm nghề tráng bánh đa nem”, về một lần “Chờ anh dưới cột đồng hồ”, về chuyện “Thắp hương”, về Hà Nội “Sau cơn mưa”, v.v. Tất cả đều giản dị, với “tính chân thực của ngôn ngữ”- song điều quan trọng hơn cả là chúng đã vươn tới “tính chân thực của thông báo” trong “quá trình tìm kiếm chân lý của nghệ thuật” – như nhà lý luận văn học Nga kiệt xuất Iuri Lotman từng đòi hỏi.(1) Cũng chính “tính chân thực của thông báo” đó cùng dấu ấn tâm hồn riêng biệt của Lý Phương Liên đã là cái giúp cho thơ chị vượt thời gian.
Lý Phương Liên hồn hậu làm thơ, như đã hồn hậu sống, hồn hậu tin tưởng, hồn hậu vượt lên trên mọi bất hạnh của số phận rơi xuống gia đình nhỏ bé của chị mà chị đã tình nguyện gắn nó vào số phận chung của cả dân tộc một cách đầy ý thức. Chị hồn nhiên kể hết những khổ nghèo, thiếu thốn, đắng cay, không hề thi vị hóa chúng. Ai cũng có thể soi mình trong đó, để tìm sự an ủi, sự cảm thông, một chỗ vịn tinh thần tình cảm để cùng vượt qua bao nỗi cam go:
Cái nghèo chẳng dễ hiểu đâu
Xa sâu như tiếng đàn bầu trong khuya
Linh thiêng lời mẹ dăn dò
Kiếp người là một gánh lo hãi hùng…

Điều gì đã cho chị thổi được vào sự sống cái tình yêu run rẩy với những hình ảnh đơn sơ, quen thuộc thế này:
Từ vị ngọt của lúa thơm
Từ hương mát của hoa trái
Từ sức gió chạy trên đồng hoang dại
Từ bong bóng mưa tháng năm…
…Chân mang gió qua núi
Cánh cò cô đơn, cánh cò lặn lội
Góa chồng nuôi con
Câu ca dao xôn xao trời đêm
Và tiếng hát
Xôn xao những cánh đời đói khát
Chị giải thích đó là do “Cội nguồn”- như tên của bài thơ, và đó cũng là cội nguồn sâu xa của một vệt Thơ chắt ra từ suy nghĩ xoáy lòng, từ dự cảm trước những điều bất công ngang trái, từ tinh thần dũng cảm sống không đầu hàng số phận của “tuổi hai mươi không tin vào định mệnh”, đồng thời không lúc nào rời xa yêu thương hồn hậu:
Không có con đường nào toàn bóng mát và hoa
Không có vùng trời nào toàn chim hót
Không có cây khế vàng trong cổ tích
Kho báu cũng không, dù có mật khẩu vừng…
Em đón nhận đời em sau một thoáng hãi hùng
Chôn mẹ, nuôi đàn em thơ dại
An phận ư? Mơ hồ sợ hãi
Sống vẫn là lời mẹ dặn thiêng liêng…

Thế là đã rõ: có tin yêu hồn hậu thì mới có tâm trạng ngơ ngác, sự thất vọng chua xót, nỗi đau đớn tận cùng, rồi từ đó mới có lòng dũng cảm để sống, để vượt lên mọi thử thách và để khẳng định bằng câu hỏi: “Có gì đẹp hơn tình yêu không anh?” Nhưng cũng chính từ tận đáy của niềm tin yêu trong trẻo, Lý Phương Liên đã có những suy ngẫm đích thực và xoáy sâu về thân phận con người, về trách nhiệm sống thực sự của con người trong cộng đồng xã hội, khi mà “Số phận mình là số phận của nhân dân”. Và đó cũng là một nội dung tư tưởng quan trọng trong bài thơ dài “Nghĩ về Thúy Kiều”- khi in sách đổi thành “Trò chuyện với Thúy Kiều” mà nhà văn Triệu Xuân cho rằng “là một trong những bài thơ hay nhất của cuộc đời thơ Lý Phương Liên, nó là “đỉnh” của chị.”. Những người nỡ “đánh” tàn tệ bài thơ “Nghĩ về Thúy Kiều” lúc ấy đâu có hiểu rằng: “đánh” nó tức là cũng vô tình “đánh” vào sự hồn hậu đáng yêu kia. Nàng Kiều của thi hào Nguyễn Du cũng hồn hậu tin đời, tin người đấy thôi, và nếu có lúc nào đấy nàng nhận ra sự bội phản, hiểu rõ sự bất trắc thì cũng chủ yếu là do tình yêu thương hồn hậu tận trong bản năng mách bảo. Lý Phương Liên, một cô gái 20 tuổi đã đồng cảm với nàng Kiều, và đã cố gắng thâm nhập vào chiều sâu trái tim người nghệ sĩ vĩ đại – nơi đã tìm ra những bí mật khuất lấp, những thế lực đen tối giật giây số phận con người vô tội. Trong “dàn đồng ca quan họ” văn chương (chữ của Nguyễn Nguyên Bảy) lúc đó, tiếng thơ của Lý Phương Liên vút lên trở thành một trong những giọng ca chủ đạo, trở thành một trong những “liền chị” có uy tín nhất, được nhiều người quý mến hơn cả, bởi hơn ai hết, chị đã nói ra được cái không khí tinh thần chung, lý giải cái điều mà nhà thơ Hoàng Xuân Họa đã chân thành kể lại: “… thơ chị đã làm rung động cảm xúc mấy thế hệ bạn đọc ngày ấy. Những người hôm nay tuổi từ 60 – 80 từng là nhà giáo, sinh viên, bộ đội, công nhân thời đó hầu như đều đọc, thuộc bài Ca Bình Minh, Lời Ru Với Anh, Ngã Ba… trong lúc cuộc sống thời chiến chẳng dư dả gì, lấy thơ nâng đỡ tinh thần để làm việc và chiến đấu… Từ chiến trường trở về tôi vẫn giữ được cuốn sổ có chép ba bài thơ: Lời Ru Với Anh, Ca Bình Minh và Em Mơ Có Một Phiên Tòa chép trên báo Nhân dân trước đó mấy năm, đem đi hỏi bạn bè về tác giả Lý Phương Liên, thấy ai cũng nhìn trước nhìn sau im lặng tảng lờ chẳng dám nhận mình đã đọc thơ Lý Phương Liên, mặc dầu họ đều là những người làm nghề chữ nghĩa, viết lách, thèm thơ như thèm lĩnh tiền nhuận bút, cuốn sổ gạo, ô phiếu thịt!”. Vậy mà thơ Lý Phương Liên đã không hề có “những trận bạo động chữ” nào – theo cách nói của nhà văn Văn Giá, cũng không hề có cái chuyện thường ngày bây giờ của một số người viết trẻ là “nặng tiếp thị, “nổ”, PR quá đà thành gian dối gây thất vọng.”. Thơ Lý Phương Liên có thể là một minh chứng sáng rõ nhất cho cái đòi hỏi này của nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên: “Văn học nói chung, văn học trẻ nói riêng, không thể là một thứ viễn mơ, xa rời và thờ ơ với số phận nhân dân, dân tộc”
Để có thể khẳng định thêm về ảnh hưởng của “hiện tượng Lý Phương Liên” đối với đời sống xã hội nói chung, đời sống văn học nói riêng, tôi cho rằng cần nhắc đến một luận điểm trong tiểu luận đặc sắc:” Quan niệm về thơ ca trong thơ Pushkin” của triết gia Nga Vladimir Soloviev mà những người viết trẻ hôm nay cũng có thể rút ra được những điều quý giá cho bản thân: “Thơ ca có thể và phải phục vụ cho cơ đồ của cái chân và cái thiện trên thế gian – nhưng chỉ bằng phương cách của mình, chỉ bằng vẻ đẹp của mình và không bằng một cái gì khác… Tất cả những gì có chất thơ – có nghĩa là tất cả những gì đẹp – sẽ bằng cách ấy dồi dào nội dung và hữu ích theo nghĩa tốt nhất của từ ấy”. (2) Và cũng chính V. Soloviev đã viết về tình yêu dân tộc và đất nước trong tác phẩm của thi hào Ba Lan A. Mickiewicz như một lời kêu gọi thấm thía đối với mỗi người cầm bút Việt Nam hiện tại: “Cả ở đây trong sức mạnh đặc biệt của tình cảm có sự dự liệu một chân lý vĩ đại, nó nói rằng dân tộc cũng như ngã thể con người có sứ mệnh vĩnh hằng và tuyệt đối, và phải trở thành một trong những hình thức trường cửu, có giá trị tự thân và không thể thay thế… cần làm sao cho thể trần thuật của tình cảm ái quốc: “tôi yêu nước” chuyển thành thể mệnh lệnh: “hãy giúp đất nước ý thức được và thực hiện được nhiệm vụ cao nhất của nó”… (3)
_________________________
1. Cấu trúc văn bản nghệ thuật – Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2004, tr.38.
2,3. Siêu lý tình yêu. Những tác phẩm triết- mỹ chọn lọc, Phạm Vĩnh Cư dịch, Nxb Văn hóa Thông tin & TT Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội- 2005, tr.854, tr.906


Nguồn: Ngangquacuocchoi.blog

ANH HÙNG CỦA NHÂN ĐÂN



ANH HÙNG CỦA NHÂN ĐÂN
Bùi văn Bồng
 
                                       
 Anh từng là người lính
Mạnh khí chất, vững niềm tin bộ đội Cụ Hồ
Xuất ngũ, lộn ngược ba lô
Tìm đất khai hoang vượt nghèo khó
Biển Hải Phòng sóng vỗ
Đất Tiên Lãng gọi người
Tên anh đã mạnh sức VƯƠN với đời
Họ ĐOÀN, anh em cùng hợp sức.

Vay vốn ngân hàng
Ngày đêm tận lực
Đầm phá hoang vu đê lấn biển VƯƠN dài
Xanh tin cậy hàng cây chắn sóng
Thao thức cùng ước mơ cháy bỏng
Anh nhìn trời cao rộng
Bao gian nan, tia hy vọng sáng bừng

Nhưng anh chưa kịp mừng
Kẻ gian tham đã rập rình cướp đất
Khi lòng tham đè lên trên pháp luật
Chúng nghênh ngang coi Trời, Phật như thừa
Vì máu tham hối thúc chúng làm bừa
Nhóm lợi ích cùng vào hùa gian ác
Dễ gì chúng bỏ qua “mâm thịt nạc”
Miếng mồi ngon chia chác lũ quan quyền
Vì lòng tham nhuốm bùn nhơ quan điểm
NGƯỜI bỗng thành CON mưu mô xuất hiện
Chúng bất chấp nhân luân hung hãn tranh mồi
Công vụ hay phi vụ?
Máu cường hào làm ô danh Cộng sản!
Lòng anh căm phẫn sục sôi
Không thể bình tâm soi lường pháp luật
Anh thành tội nhân bởi lũ tanh hôi
Dáng cây thông VƯƠN thẳng giữa đời
Người anh hùng đứng lên đòi đất

Đất đai – một đời mơ ước
Đất đai – mồ hôi, nước mắt
Đất đai – dồn sức lo toan
Đất đai – hy vọng dâng tràn
Đất đai – VƯƠN lên cao QUÝ (*)
 
 

Trước nỗi oan khiên
Trước lũ cường quyền
Người linh năm xưa xung trận
Bị dồn đến chân tường uất hận
Người nông dân hiền lành chăm chỉ
Người  cựu chiến binh bền chí
Buộc phải dùng vũ khí
Chống bất công, gian ác, cường quyền
Máu trộn mồ hôi và nước mắt
Ai ép buộc anh điên máu lên?
 

Anh không điên
Đoàn Văn Vươn, anh hùng thời đổi mới
Anh hùng lao động
Anh hùng của nhân dân
Anh hùng vì công lý
Đánh thẳng vào quan tham
Đập tan thói hung hăng còn sót lại
Tàn dư thời phong kiến lộng hành
Tàn dư thời quan lại gian manh
Chúng mượn danh Cộng sản
Nhưng nói với dân bằng súng đạn
Phải chết ư?
Giam cầm ư?
Anh không nản
Đấu tranh cho lẽ phải, công bằng
Có nề chi quyền lực với xiềng gông
 

Anh như ngọn đuốc sống
Xua bóng đêm soi ánh rạng chân trời
Con Rồng quẫy lên rồi
Chí khí anh gọi đời thêm mạnh bước
Trong đổi mới anh VƯƠN lên phía trước.


Bùi Văn Bồng
Nguồn: Trannhuong.com

Nhà văn Bùi Bình Thi Tạp cảm về "Đứt dải yếm"



"Đứt dải yếm", thơ Nguyễn Thị Ngọc Hà


Bùi Bình Thi

Tôi cầm trong tay tập thơ có cái tên là lạ mà lại thật là quen:“Đứt dải yếm.” Tôi bỗng nhớ một câu ca dao đã đọc từ hồi còn trẻ ranh, nhưng mãi đến tận bây giờ mỗi khi đọc thầm lại, vẫn còn thấy sướng; “ Nõn nường là nõn nường ơi! Chắp tay con lạy ông giời thương con.” Thật tuyệt vời, chả là khi cô gái đứt dải yếm, vạt yếm phất phơ trước gió, còn anh ta nhìn trộm được đôi nõn nường của nàng. ( Hoặc cô gái ấy muốn kín đáo khoe, biết đâu mà lường được lòng dạ con gái ?! ) Anh ta cảm thấy như có lỗi, và tiếng thương ở đây là xin ông giời tha thứ. Nhưng cũng biết đâu được vì quá mê đôi nõn nường tuyệt vời của em mà chàng trai cầu giời thương cho hai đứa được chắp mối tơ duyên. Tôi nghiêng qua ý sau,  nhân đây tôi cũng xin nói luôn rằng, tôi rất ghét chiếc coóc sê bây giờ, bởi nó là công cụ che đậy, đã thế lại còn bọc cho cái giả dối tồn tại…?! Tôi nhớ tại Châu Âu, một hãng coóc sê đã quảng cáo như thế này: “ Tôi Coócsê nâng đỡ những kẻ yếu, đàn áp cho vào khuôn phép những kẻ mạnh, đưa về những kẻ lạc đường.” (Ý nói bà nào cô nào có loại vú mướp đấy.) Cái yếm của các cô gái ta xưa hơn gấp tỉ lần, ấy là cái thật tha hồ mà thách thức, rất đáng thách thức, vì nó đầy đầy vì nó căng tròn, vì nó mòng mọng, vì nó mơn mởn đôi đầu nõn nường đỏ chon chót. Giời đât, ấy vậy mà chỉ cần che qua cho gọi là, chỉ một vạt vải hoặc lụa, thì có chết người ta không cơ chứ! Giời ơi là giời!
 Đứt dải yếm mà đem đặt tên cho một tập thơ thì Nguyễn Thị Ngọc Hà “ thật to gan.” Khi đọc xong ngẫm ngợi khá lâu, tôi thấy Ngọc Hà  “ to gan’’ cũng đáng lắm, vì cả tập thơ  36 bài mà có những 22 bài hay và rất hay. Ngay trang đầu  đã gặp một bài thơ rất hay. “ Miền ấu thơ” xuyên suốt bài thơ này câu chữ thật hồn nhiên, cái hồn nhiên rất thiếu nữ.
 “Thôi đừng gọi chị bằng em/ để lời mưa gió ướt đêm hội làng / Thôi đừng “lối dọc tinh ngang”/ để cho hờn dỗi đa mang dỗi hờn / chị ôm đầy ắp trăng tròn / chờ đến mỏi mòn em có lớn đâu / ngày chị buộc phải làm dâu / mắt em…một thoáng…chị đau cả đời / ngược xuôi trên cánh đồng Người / cái thuở chín mười ấm ngọt khó quên / trước xưa thầm sáng ánh đèn / rưng rưng chị gục xuống miền ấu thơ / cầm bằng… / ngõ vắng ngập mưa/ đường trơn /  em có dám đưa chị về / rũ đi muôn nỗi bộn bề / lại trinh nguyên bước trẻ quê độ nào.”Cái hay của bài thơ này, là nó thấm đẫm cái chất chân quê. Chân quê. Vâng! Mãi mãi còn một nền văn hoá chân quê. Đấy là nền văn hoá làm nên một tộc Việt, để không hề lẫn với bất cứ tộc nào, nền văn hoá đó đáng chiêm bái, ngưỡng mộ và gìn giữ đời đời. Cô gái phải đi làm dâu thôi, ( đang thì mà, ) còn tình yêu ư, cái thuở yêu ư, cái thuở họ xoắn xuýt lấy nhau ư, làm sao mà quên được. Thế mà được tác giả tả bằng hai câu thật giản dị, vì giản dị nên rất gợi cảm. “ Ngược xuôi trên cánh đồng Người / cái thuở chín mười ấm ngọt khó quên.” Ngúng nguẩy đấy, hờn dỗi đấy mà vẫn đắm say lắm. Quả thật thơ là ngôn ngữ, không thể loại nào bắc bậc cho được.
 
Trong bài: Trong một giấc mơ:
  “ Trường Sơn mưa nẵng vẫn u hoài / hun hút bóng người…đi không trở lại / chỉ còn dấu chân hoá trầm mạch núi…” ( là trầm tích đấy) “… Hình như mỗi khi trái gió trở trời / cây rùng mình nghiêng chiều lá đổ / đá rùng mình lạnh vã mồ hôi…” và rồi tác giả đưa người đọc đến một khổ thơ đầy chất điệp khúc, vun vút lên tới tận đỉnh của hồn người:“ …Phải chăng đau nỗi đau Người / nên rừng chẳng bao giờ cạn gió / mặc tiếng vọng réo trong nỗi nhớ / váng vất đêm ngày / váng vất suối khe / để giọt nước mắt …rơi từ năm ấy / đến hôm nay vẫn cứ ướt về…/con đường rêu trơn / kỉ niệm trườn về trượt ngã / chợt thảng thốt giấc mơ trắng xoá.” “ Chợt thảng thốt giấc mơ trắng xoá.” đọc câu thơ này mà thấy điếng người, lòng quặn thắt. Phải rồi, cái gì dẫu có nặng lòng đến đâu rồi cũng có lúc quên thôi. Thật là một lời cảnh báo quý báu. 
   Một bài thơ hay, đương nhiên có những khổ thơ hay, như khổ này trong bài “Đợi” “chẳng hạn : “ Vốn mẹ cho dần vợi / như giếng cạn soi trời / buông dây gầu chạm đáy / múc lên toàn tiếng rơi.” Còn nước đâu mà múc, cái rất thực về cuộc đời đã được tác giả hoá thành thơ như thế đấy.
   “ Nước mắt đàn ông.” Bài này chẳng những có tứ hay mà các câu đều có giá lắm. “  từ ngày thành thiếu phụ / tôi đã dỗ nước mắt chảy chìm / để phấn hương thả nổi / dỗ tiếng khóc núp sau tiếng cười…/  để sống…” Thể hiện tính chịu đựng của người đàn bà mà lại rất thơ, tài quá! Và đây nữa:
   “ Chợt / có giọt nước mắt đàn ông rơi vào khu vườn tôi / ướt từng ngọn gió / hình như nó nặng hơn / mặn hơn /chát hơn mọi giọt nước mắt ở đời.” Trời đất! nói đến nước mắt của đàn ông ( nó nặng hơn, nó mặn hơn, nó chát hơn)  thì quả thật người đàn bà này đã hiểu đàn ông đến lạ kì. Bởi đối với đàn ông,  làm cho  “chúng nó” khóc được là khó đấy, chứ không bỡn đâu nhá. Và cũng chỉ có ba chữ “ nặng, mặn, chát” mà thấy cái tận của một nỗi yêu, yêu đến vậy cũng là tận rồi.
  Tôi là người tôn sùng thơ Vũ Hoàng Chương. Giời ơi! say được như thơ anh, trong cái say đến đảo điên, ấy vậy mà vẫn cảm được cái hôi hổi của sự cao sang, cao thượng và vị tha. Đây là một khổ thơ rất hay của Nguyễn Thị Ngọc Hà trong bài “ Phía ngoài cánh cửa” đọc lên khá thú vị, bởi đó là một tứ thơ say, nó gợi cho ta một thời quá vãng.  “ Mở cánh cửa / gặp lại ngày chưa xa lắm / tôi trong tôi lấm láp bước chân trần/ men đất trời buông thả / hoá tôi thành mùa xuân.” Trong mọi sự phóng đãng, thì phóng đãng của thơ đáng nâng niu biết nhường nào. “ men đất trời buông thả / hoá tôi thành mùa xuân. ” Vừa đọc đến đây lòng dạ bỗng mở bung ra, chả phóng đãng còn là gì nữa nào?  Cũng còn một tính cách nữa, chỉ có thơ mới hàm chứa được. Khi ấy nó làm cho người đọc bỗng cảm tình, yêu mến cuộc đời và say trong thú vị, cái thú vị đó là sự phát hiện ra bài Ví bằng : “ Ví bằng… gửi thiếu cho thừa / gửi ngày nắng hạn cho mưa ngập đồng / gửi bình yên cho bão giông / để từng ngang trái chẳng mong lối về / ví bằng…dìm tỉnh vào mê / để ta quên hết những gì khó quên /  ví bằng…đến gõ cửa thiền / mượn nâu sồng gói ưu phiền trả ai / để cho muôn tiếng thở dài / chỉ như cơn gió thoảng ngoài bóng mây.” Đọc xong cả bài thơ, làm cho ta nhớ đến sự tai quái của một khổ ca dao.” Hùm nằm cho lợn liếm lông/ một chục quả hồng nuốt lão tám mươi/ nắm xôi nuốt trẻ lên mười/ con gà be rượu nuốt người lao đao.”
 
    Ở đời, thiếu đi những câu ca dao như thế thì còn ý nghĩa gì nữa cơ chứ! Vì vậy bài thơ “ Ví bằng”  mỗi lần đọc lên lại thấy lòng dạ cứ sướng râm ran, và sau cảm xúc thăng hoa đó là tận cùng của sự vô vi. Ấy là, dẫu có đến một triệu con số  thì cũng vẫn chỉ bằng không.
   Con người ta ai cũng dễ rơi vào cô đơn. Có người thích cô đơn, và nhiều người sợ cô đơn, thì mặc họ. Thương thay, khi chính mình lại rơi vào cái nỗi quạnh hiu ấy. Bài thơ “ảo” đã nói về nỗi cô đơn của con người. Thơ nói về cô đơn thì khối. Nhưng nói về cô đơn mà nói được như thế này, xin có lời khen :“ Người gieo chi ảo cho nhau / đợi trầm hoá núi / chờ nhàu sương rơi / trông lên nắng đã nghiêng trời / quanh tôi chỉ một bóng tôi đổ về / cố vùng vẫy khỏi cơn mê / mới hay phương ấy có gì mà mong / chỉ là mây gió hư không / tôi còn lạc giữa mênh mông gọi Người.” Đã rơi vào cô đơn , bao giờ cũng thấy bốn bề là thinh không, hay tĩnh lặng. Đằng này đọc xong 8 câu thơ trên lại thấy người thiếu phụ này đã rơi vào cô đơn rồi, mà thân phận đa đoan vẫn còn đuổi theo bám nhằng nhẵng, tiếp tục dày vò thì có khốn khổ không cơ chứ.
  “ Sau bão” cũng là bài thơ tôi thich. Trong bài có câu rung động quá.” …Ôm vào mình cái thuở nắng mai / chạm con sông nghiêng chiều cò lả / chạm lời ru tận nơi có mẹ / vọng từ đâu mà ấm đến vô cùng.”
Trong tập thơ “Đứt dải yếm” N.T.Ngọc.Hà hay nói đến nỗi đa đoan, nỗi oan khuất, chia ly, cô đơn và cả nỗi mê đắm, nhưng lại vô thường của những thân phận đàn bà, họ buồn đau đấy mà không bi luỵ, vẫn luôn hướng về phía tươi sáng nhất. Phải thôi, chị ở trong họ mà, chị cất tiếng, cất giọng, dẫu tiếng thế nào, giọng gì, trầm hay bổng, đơn khúc hay đa khúc, hết thẩy đều thực. Một sự thực không thể cãi lại được với tác giả. Chính vì thế làm cho 36 bài, trong đó có 22 bài khá hay 14 bài còn lại, nếu đọc kĩ vẫn nhặt ra được những câu thơ đắc ý lắm.
    Trước khi nói về bài thơ có tên là “ Sóng luân hồi”  một bài thơ theo tôi là rất hay, hay đến mức hoàn toàn khuất phục người đọc. Cho tôi xin phép nói về một bài thơ khác có tên là”Một lời” tôi xin chép hết để bạn đọc cùng thưởng thức. “ Một lời…ném đục vào trong / đổ mưa ngập nắng thả đông buốt hè / Một lời…dìm tỉnh đến mê / ngày ôm bóng ảo đêm về ngất ngây / Một lời…nấm dại mọc đầy / mặc hồn trái ngọt khóc tay người trồng / Một lời… gieo gío giữa đồng / Trách trời thấy bão lại không bắt đền / Một lời, thật khó đặt tên .” Nào, đã thấy cái tai quái hết cỡ chưa? Và sau rốt là nỗi đa đoan, một sự gian truân,  một hờn giận, một vô cớ mà bị giăng mắc, bị sa vào lưới trời khôn thoát. Hết thảy mọi oan trái của thân phận đàn bà đâu phải từ nguồn cơn to tát ghê gớm gì cho cam. Thế nhưng, có thế mới là cuộc đời chứ ! Có thế người đời mới láy đi láy lại : “ Thân em như hạt mưa sa…”Giời ạ, thân phận đàn bà mà chỉ ví như hạt mưa sa. Bởi vậy bài “ Một lời” là bài tôi xếp vào những bài thơ hay trong tập đấy.
   Chẳng rõ tôi nghĩ có đúng không, rằng, cấu trúc cho được một tập thơ hết sức khó, khó vô cùng. Tôi thấy có nhiều người làm thơ, khi đọc cũng chỉ thấy từng bài ở mức đường được. Có lần, một nhà thơ hẳn hoi, cũng có danh trong một hội văn nghệ to to chứ không bỡn đâu, và anh ấy còn làm trong một cơ quan ngôn luận, cơ quan ấy cũng quyết định đến vô khối số phận những người cầm bút đấy. Có một lần anh ấy hỏi tôi: “ Bài thơ nào của tôi in trên báo ông đều đọc cả, có lần ông còn thuộc đôi ba câu. Vậy tôi có nên cho xuất bản một tập thơ không? tập dày đấy, ít nhât cũng hơn 400 trăm trang, nào ông nói đi ?” Tôi trả lời ngay, không cần cân nhắc: “ Thơ của ông nhiều thật, nhưng không thể vào một tập được ! ” Anh nhà thơ ấy nhảy dựng lên, hỏi lại rất gay gắt:“ Vì sao? Vì sao chứ. Cả mấy trăm bài của tôi gộp vào, có gì mà không được nhỉ ? ” Nghe anh nhà thơ ấy nói xong, đã đến lúc phải cho anh ấy một liều thuốc đắng, cho rã cái thói ngông. Tôi nói: “ Trong một tập thơ dẫu bao nhiêu bài cũng được, nhưng khi đọc cả tập nó phải như sóng biển đang cồn ấy. Con sóng, có hõm sóng, có ngọn sóng, nó nhấp nhô trùng trùng điệp điệp. Còn thơ của ông tất cả các bài cứ phẳng lặng như mặt hồ thì vào tập làm gì cho phí tiền, phí giấy.” Anh nhà thơ ấy im lặng, từ đó anh ta cũng cạch cái mặt tôi.
   Xin trở lại với tập Đứt dải yếm của N.T.Ngọc.Hà. Như trên đã nói, tôi đã đọc kĩ, rất kĩ 36 bài , chọn ra 22 bài thơ hay của tác giả. Riêng bài Sóng luân hồi tôi đọc không rõ mấy lần, lần nào đọc xong, hai mi mắt tôi cũng rơm rớm.( Tôi rất yêu mẹ, bà cũng rất yêu và thương tôi, mặc dầu dưới tôi còn bảy em nữa.) Đọc bài  Sóng luân hồi  tôi luôn tự hỏi làm thế nào mà chị lại có thể làm được một bài thơ hay đến thế nhỉ. Bài thơ nói về người mẹ đã khuất của chị. Toàn bài tách từng chữ thì bình thường, nhưng khi nó được gắn kết trong câu rồi, thì câu ấy lại đầy ắp thơ. Nỗi thương cảm về người mẹ thật sâu sắc. Tôi xin dẫn cả bài  thơ để làm phần kết cho bài tạp cảm này của tôi.
  “  Mẹ giờ khuất ở phương nào / Chỉ còn tiếng lá rụng vào thinh không / Con huơ tay đến tận cùng / Chạm đâu cũng mẹ mà không thấy Người / Hai vai vừa gánh khóc cười / đã rưng rưng nén nhang rơi tàn về / ước gì ở cõi xa kia / Chẳng còn cơ cực sớm khuya nhọc nhằn / Chẳng còn cái nợ hồng nhan/ Phấn hương thả nổi đa đoan buộc chìm / vớt lên từ đáy nỗi niềm / Mới hay cay đắng mẹ dìm thật sâu / Một mình / thầm một mình đau / Vẫn lo con dại bể dâu nẻo đời / Đôi bờ sóng cuộn luân hồi / Mẹ dành bên lở / bên bồi nhường con.
Đọc xong bài thơ này của N.T.Ngọc Hà, tôi càng yêu thêm tiếng Việt của ta. Thật kì diệu, tiếng Việt qua thơ chị giầu lên biết bao. Còn những bài thơ hay khác nữa trong tập Đứt dải yếm tôi chưa dẫn dụ hết  như: Đỉnh Côn Sơn, Hoa dại, Dĩ vãng, Cây và Người, Khúc trầm, Mưa ngâu, v… v.
   Đương nhiên sẽ có người nói rằng, làm thơ về mẹ bao giờ mà chẳng hay. Tôi xin cãi, không có chuyện ấy đâu. Đương nhiên ai chẳng có cảm xúc về người mẹ. Bởi tình yêu cha mẹ là trời bể mà. Nhưng khi đi tìm một đại lộ cho cảm xúc, để cảm xúc đó biến thành con chữ, mỗi con chữ ấy lại nằm lòng trong mỗi câu thơ thì thật khó, khó lắm. Cho nên càng quý và trân trọng bài thơ Sóng luân hồi của N. T. Ngọc Hà. Cảm ơn tác giả đã cho tôi được đọc và được biết thế nào là một bài thơ hay. Tập thơ Đứt dải yếm có cái tên tuy “ chua” một tí “đong đưa” một tí, cả ngúng nguẩy một tí nữa. Nhưng toàn tập là một nền văn hoá chân quê trong tâm hồn Việt của tác giả./.
B.B.T

NƯỚC NON ĐÃ ĐẾN NƯỚC NÀY RỒI Ư ?



NƯỚC NON ĐÃ ĐẾN NƯỚC NÀY RỒI Ư ?
Bùi Hoàng Tám

Trời ơi bác Hảo làm thơ
Sông Hồng lở cả hai bờ từ nay
Kẻ gian áp bức người ngay
Nước non đã đến nước này rồi ư?
Giáo sư ngồi khóc thái sư
Khóc rồng, khóc rắn mà như khóc mình.

Đầu xuân 2012, Tiến sĩ Chu Hảo bỗng dưng “đổ đốn” làm thơ. Khi nhà khoa học cầm bút làm thơ là lúc Sông Hồng không còn bên lở, bên bồi mà.. lở cả hai bờ! Bài thơ của một vị Giáo sư viết về thân phận một vị Thái sư cách mình 1000 năm đầy ai oán. Cảm tác trước hình ảnh này,  xin tặng Giáo sư Chu Hảo, một trí thức mà tôi hằng quý trọng bài thơ viết vào chiều 30 tết năm Tân Mão.
Dưới đây là bài thơ của TS Chu Hảo đăng trên Nguyễn Xuân Diện.

Rồng đá
ở đền Lê Văn Thịnh *

Chu Hảo

Tai nghễnh ngãng không nghe kẻ sỹ
Mắt mù mờ không thấy hiền tài
Phũ phàng đầy đọa người trái ý
Ngàn năm còn mãi nỗi oan sai
Giận dữ ai nổi cơn thịnh nộ
Cắn xé thân mình răn đe ai
U mê mãi rồi cũng sám hối
Nguyên khí đâu mở lối Rồng bay

 Lê Văn Thịnh, người Kinh Bắc, đỗ thủ khoa trong kỳ thi Nho học Tam trường đầu tiên ở Việt Nam do Vua Lý Nhân Tông tổ chức vào năm 1075. Ông làm quan trong triều đến chức Thị Lang Bộ Binh, có công lớn trong việc bàn nghị phân chia cương vực với Triều đình Nhà Tống để giành lại 6 huyện biên giới ( nay thuộc Cao Bằng ).Theo Đại Việt sử ký ( thời Nhà Trần ) và Đại Việt sử ký toàn thư ( thời Hậu Lê ) thì ông là một nghịch thần, có phép " hóa hổ" để mưu sát vua trên hồ Dâm Đàm ( Hồ Tây ngày nay ). Sau này có nhiều ý kiến cho rằng đó là một vụ án oan sai : Vua đã nghe lời xúc xiểm của bọn gian thần ghen tức với tài năng và đức độ của Lê Văn Thịnh mà đày đọa ông - một hiền tài. Ông đã bị Vua đầy lên miền sơn cước thượng lưu sông Hồng và chết trong quên lãng... Đây mãi vẫn là một nghi án, nhưng dân gian đời sau đã xây đền thờ Lê Văn Thịnh ngay trên nền ngôi nhà nơi Ông sinh ra ở núi Thiên Thai ( Bảo Tháp, Đông Cứu, Thuận Thành, Bắc Ninh) như để giải thoát cho nỗi oan khuất của Ông. Khoảng đầu những năm 90 TK trước, tình cờ người trông nom đền phát hiện ra một pho tượng Rồng đá cao khoang 0,8m, dài khoảng 1m. Đây thực sự là một tuyệt tác nghệ thuật: người nghệ sỹ khuyết danh ( có lẽ ở thời Hậu Lê ) đã khắc họa hình ảnh con Rồng " miệng cắn thân, chân xé mình " hết sức sinh động để người xem phải sửng sốt cảm nhận nỗi ân hận đắng cay của bạo chúa đã gây ra oan nghiệt. Rồng bạo chúa đã được người nghệ sỹ tài ba đặc tả với một bên tai không có lỗ.Cũng có ý kiến cho rằng Rồng đá này là biểu tượng của chính Lê Văn Thịnh. Chỗ hiểu khác nhau này xin dành cho bạn đọc lựa chọn theo cảm nhận của riêng mình.

Nguồn: Trannhuong.com

TIỀM ẨN THƠ VIỆT NHÌN TỪ LÁT CẮT BẮC MIỀN TRUNG

  
      

TIỀM ẨN THƠ VIỆT NHÌN TỪ LÁT CẮT BẮC MIỀN TRUNG
Vĩnh Nguyên

Nói tiềm ẩn ở đây có 3 ý. Một là, sức vóc, nội lực ghê gớm nhưng chưa viết ra. Hai là, viết ra rồi rồi cất vô tủ. Ba là, sự bùng phát cực mạnh của nhiều nhà thơ.
Đã có trường hợp, người thơ muốn in một tập tặng bạn bè chơi nhưng không có tiền, không có ai tài trợ. Nhà thơ lâu lâu rút ra đọc đọc cho đỡ buồn rồi lại cất vô tủ. Thơ ấy thường là thơ hay. Thơ cho chính họ và thơ cho cuộc đời.
Địa thế đất đai Bắc miền Trung hẹp nhất nước về chiều ngang. Chỗ hẹp nhất là Quảng Bình. Chỗ Quảng Bình hẹp nhất là từ chân cầu Quán Hàu (Quốc lộ 1), từ đây theo tỉnh lộ 4 đi lên đường mòn Hồ Chí Minh là 4 kilômét, và chỉ 3 kilômét theo đường chim bay. Hoặc cắt ra biển độ dài cũng chỉ chừng ấy. Dưới chân núi Mâu Sơn của dải Trường Sơn có dốc U Bò. Dưới chân U Bò có đường giao liên ra Bắc vào Nam thời chống Pháp. Ra Bắc gặp núi Ba Rền, Mồng Gà, Đá Đẻo, Vụ Quang (Hà Tĩnh). Đi vô gặp thác Cóc, Động Tranh (Quảng Trị). Móc-chê Pháp bắn từ đồn Quán Hàu, đồn Đồng Hới lên U Bò, dân làng Vĩnh Tuy tôi đi rừng bị trúng đạn, chết nhiều lắm.
Nói như vậy để thấy rằng chiều ngang đất nước đoạn nầy hẹp lắm. Hẹp vừa một tầm pháo nòng ngắn. Đoạn Hà Tĩnh cũng hẹp. Từ biển Vũng Áng nhìn lên phía Tây như đã chạm mặt đỉnh núi Vụ Quang (Hương Khê) rồi.
Dải đất hẹp, gió Lào cát trắng nắng nóng đến kinh người. Hà Tĩnh có mỏ sắt trữ lượng có thể lớn nhất nước nên càng nắng nóng hơn nữa.
Ở giữa xứ sở Bắc miền Trung nắng nóng ấy đã sinh ra hai nhà thơ siêu việt của đất nước: Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ. Hai ngôi làng Tiên Điền và Uy Viễn của hai cụ lại cận kề nhau mới lạ chứ. Người đời yêu một Nguyễn Du uyên bác và người đời cũng yêu một Nguyễn Công Trứ sắc sảo và ngông: Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi bấy/ Nếu không chơi thiệt ấy ai bù? Hoặc: Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ/ Không quân thần phụ tử đếch nên người!
Hồi học trường viết văn Quảng Bá (khoá 7, 1974-1975), tôi tìm thăm anh Chế Lan Viên ở Hội Liên Hiệp VHNT- 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Bàn làm việc của anh Chế đầy sách báo, thư từ. Tôi liếc thấy một bức thư bên dưới ký tên Thồ. Tôi hỏi, anh Chế cười mà rằng: Thồ là tên cụ Hữu Loan đó mà em!
Ôi tác giả Màu tím hoa sim! Ở phân đội tàu chiến đấu của tôi hồi ấy, anh em thuỷ thủ đa phần có sổ tay chép thơ. Các tác giả như Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Xuân Sanh, Hoàng Cầm, Chế Lan Viên...thiếu ai thì thiếu, các sổ tay không thể thiếu Hữu Loan. Nhiều anh còn cải biên một địa danh: Chiều hành quân lên chiến trường Tây Bắc, có bản đổi ra Đông Bắc cho “hợp” bởi họ đang ngày đêm canh giữ vùng biển đảo phía Đông của Tổ quốc. Viết thư cho Chế Lan Viên ký tên Thồ, lòng tôi xốn xang phải đi tìm ông.
Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan. Ông từng tham gia lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền tại Nga Sơn với cương vị Phó Chủ tịch uỷ ban khởi nghĩa. Sau cách mạng tháng Tám, Hữu Loan là uỷ viên văn hoá trong Uỷ ban lâm thời tỉnh Thanh Hoá, phụ trách 4 ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính, Công chính. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Hữu Loan tham gia quân đội, ông giữ chức chính trị viên tiểu đoàn, phụ trách báo Chiến sĩ Sư đoàn 304. Ông viết bài thơ Quách Xuân Kỳ nổi tiếng không kém gì Đèo Cả. Quách Xuân Kỳ quê Hoàn Lão, tay Ái quê Lộc Thôn. Hai ngôi làng gần nhau. Thuở nhỏ Ái hay tới nhà rủ Kỳ đi học. Sau này Quách Xuân Kỳ làm Bí thư Thị uỷ Đồng Hới ( Quảng Bình). Kỳ bị bắt. Quân Pháp giải bí thư Quách Xuân Kỳ về Hoàn Lão xử bắn để thị uy. Và chính tay Ái nâng súng xử bắn Kỳ. Quá đau đớn, Hữu Loan viết bài thơ nầy (trích đoạn cuối bài thơ):
       ...Bóng cao
          Tóc xù
          Trai Quảng Bình
                                     Trong quán phở chiến khu
          Đập bàn
                       tắt đèn
          Thét/ săn/ rách/ áo
          Thằng Ái Lộc Thôn
                                         bắn
                                              thằng Kỳ Hoàn Lão!

Chao ôi! Giá chi bây giờ có người thơ dũng khí viết chỉ mặt chỉ tên, nói chẻ hoe như thế với các quan tham nhũng cho dân được biết, bởi lắm vụ quá cụ thể, người ta hô hào “cho làm giàu” rồi dùng cái quyền chức ông lớn ấy, trắng trợn vơ quá nhiều công sản béo bở của dân của nước chia cho nhau, nhơn nhơn càn mặt, không hề biết trơ trẽn, lại còn lợi dụng diễn đàn vờ vịt lừa mỵ công luận, lừa mỵ người khác.
Với tác giả Màu tím hoa sim, người đời biết một Hữu Loan qua tập thơ cùng tên chỉ trên mươi bài gì đó. Nhưng Đèo Cả, Màu tím hoa sim, Hương lúa, Quách Xuân Kỳ, Những vùng làng đi qua...cũng đủ để người đời yêu quý, ngưỡng mộ ông. Hồi ông công tác tại báo Văn nghệ (sau năm 1954), Hữu Loan đã viết một bài thơ về Thủ đô (in trong tập Màu tím hoa sim). Ông chuyển về quê Nga Sơn sống cùng vợ con. Ông làm nghề bẫy đá, thồ đá nuôi bầy con (10 đứa) ăn học nên người. Ai hỏi ông chuyện thơ phú, ông chỉ đọc rành rọt hai bài Màu tím hoa sim và Hương lúa-hai bài ông làm tặng cho hai người vợ ông yêu quý rồi vuốt râu cười sảng khoái!
Sau khi Hữu Loan qua đời (18/3/2010), các bạn văn Thanh Hoá tìm thấy một bài thơ dài mang tên Thủ đô Hà Nội, của ông viết ở Rừng Thông Thanh Hoá. (Đọc trên mạng Trần Nhương tôi mới biết sự kiện nầy).
Đó là tiềm ẩn của Hữu Loan thi sĩ.
Và Thanh Hoá một Kiều Vượng văn xuôi. Anh có vốn sống phong phú. Chiến tranh chống Mỹ xẩy ra, Kiều Vượng trực tiếp chỉ huy thanh niên mở đường giúp bạn Lào. Lại tiếp chỉ huy vận chuyển súng đạn vào Nam bằng đường sông, đường biển mà anh là Bí thư đảng uỷ Đoàn vận tải Lam Sơn tại tỉnh Quảng Bình. Một Kiều Vượng truyện ngắn, truyện dài, bút ký, phóng sự “đánh Đông dẹp Bắc”chống tiêu cực sắc bén. Đùng một cái, Kiều Vượng có trường ca viết về Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn (Đã giới thiệu mấy chương đầu ở báo địa phương và Tuần báo văn nghệ).
Nghệ An, các tác phẩm Thăm lúa, Đêm nay Bác không ngủ của Trần Hữu Thung và Minh Huệ là hiện tượng thơ một bài (Cách nói của cánh phê bình). Nhưng đến Thạch Quỳ thì không một bài mà hiện tượng nhiều tập bài. Tập đầu Tảng đá nhành cây, Thạch Quỳ đã khảng định cái tôi quyết liệt: Tôi đầy ứ, thẳng căng, tôi mạnh khoẻ/ Tôi cao hơn đất đá mọi công trình/ Tôi không phải sơ đồ bản vẽ/ Tôi cao hơn người máy, thần linh. Và tập mới Bức tượng (2009), Thạch Quỳ vẫn lì lợm tảng đá bản ngã: Trơ trơ như đá/ Đá đổ mồ hôi/ Biết hay không biết/ Lầm lì mồ côi (Tảng đá). Hoặc: Gét cái không đáng ghét/ Yêu cái chẳng đáng yêu/ Thà làm quách tảng đá/ Nằm vô tư trong chiều (Bác Phùng nằm dưới mộ).
Một điều đáng nêu gương: Trong lúc “gạo châu củi quế”, giá vàng lên ngất ngưỡng mà Chi Hội Nhà văn Việt Nam tại Vinh ra được định kỳ “Văn nghệ Thành Vinh” do các nhà thơ Dương Huy, Nguyễn Quốc Anh chủ xướng đã thu hút nhiều lớp nhà văn Nghệ An vươn dậy mạnh mẽ; riêng thơ có Lê Quốc Hán, Lê Thái Sơn, Nguyễn Thị Phước vân vân...
Hà Tĩnh, hai cụ thơ Tiên Điền, Uy Viễn xếp chiếu chót đỉnh không phải nói nữa, người đời có thể nào quên một Huy Cận thơ Sầu rụng, Nhạc sầu: Ai chết đó nhạc sầu chi lắm thế/ Trời mồ côi đời rét mướt đầy đường... Một Xuân Diệu lãng mạn Lời kỷ nữ, Quả sấu non trên cao: Trái con như thách thức/ Trăm thứ giặc thứ sâu/ Trách kẻ thù sự sống/ Phá đời không dễ đâu !
Giờ bạn đọc chú ý một cây thơ mới Nguyễn Ngọc Phú. Sự kiện 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc làm nên trang sử hào hùng của dân tộc, Nguyễn Ngọc Phú có trường ca Ngã ba Đồng Lộc (Xuất bản 2007). Quê Phú ở biển Thạch Kim. Phú- chàng trai biển ăn sóng nói gió xô táp biển. Nguyễn Ngọc Phú viết nhiều thể loại văn học về biển. Nhưng anh vẫn dồn tâm huyết biển cho thơ. Điều gì đến nó phải đến: Con đường cá (trích trường ca ) của anh đã giới thiệu trên Văn nghệ số 15/ 2010. Và nay, chững chạc một trường ca 8 chương, mang tên Biển và tôi. Tôi tin Phú, Phú còn viết nhiều  thơ hơn nữa về biển .
Quảng Bình, một Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn (1897-1947) tác giả Tiếng quốc canh khuya là nỗi niềm của đứa con yêu nước thương nòi, lại còn Năm cụ khi không rớt cái ình... là tả Năm vị thượng thư bị hạ đài. Còn hơn thế, Văn tế trận vong tướng sĩ, do tác giả đọc ở bến Thương Bạc-Huế ngày 9/3/1945, đúng ngày Nhật đảo chính Pháp đã làm dậy sóng đất Thần kinh. (Toàn bài có 61 câu, xin trích đọc 7 câu)

       ... Rong ngực sắt Phù Đổng Thiên Vương phá giặc, khói anh linh còn phủ núi Trâu Sơn!
       Phất khăn hồng Trưng nữ tướng hưng binh, gương tiết liệt trắng in hồ Lãng Bạc!
       Dòng máu đỏ sông Bạch Đằng còn gợn, nào những trận phá Hán, Ngô Vương Quyền, cầm Hồ Trần Hưng Đạo, oai linh kia muôn thuở vang lừng;
       Đống xương tàn thành Long Đỗ còn xây, nào những trận bình Ngô, Lê Thái Tổ, tảo Mãn Nguyễn Quang Trung, công đức ấy ngàn thu ghi tạc.
       Thân lao lịch đại đã rỡ ràng;
       Sự nghiệp Quốc triều càng to tát
       Rưới mưa móc thấm miền Thuận Quảng, áo dày cơm nặng, khúc Hoài Nam còn ngấm đức tài bồi...
     Một Lưu Trọng Lư ngông mà thắm trong nỗi buồn: Những ngày lạnh rớt gió vèo trong cây! Một Nguyễn Xuân Sanh lẫy lừng Xuân Thu Nhã Tập: Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà... Một Hàn Mặc Tử đớn đau bệnh hiểm: Người đi một nửa hồn tôi mất/ Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ... Thơ ấy là siêu thơ, người đời không mấy ai viết nổi.
Xin nói thêm trường hợp Lưu Trọng Lư: Tiềm ẩn thơ ở nhà thơ nầy rất lớn; lớn đến quá mức tưởng tượng. Kỷ niệm 10 năm nhà thơ ra đi (1991- 2011), tại Tp Huế, Hội văn học nghệ thuật TT- Huế, Hội Nhà văn TT- Huế cùng gia đình nhà thơ đã tổ chức đêm thơ “Huế và Lưu Trọng Lư” rất trang trọng. Ở đêm thơ nầy, gia đình Lưu Trọng Lư cho biết: Trong thời gian nhà thơ xây dựng gia đình ở Huế, ông thường ngồi viết trên đò trên sông Hương, đến nay gia đình thu thập trong lai cảo đến 11 cuốn tiểu thuyết đầy chất thơ. Còn “Những bài thơ chưa công bố”, gia đình công bố trong tập thơ “Bài ca tự tình” do NXB Hội Nhà văn ấn hành quý 3/2011 gồm các tiêu đề:

      1 Tự sự… đời  28 bài
      2 Những vấn vương 11 bài
      3 Cánh hoa bay 14 bài
      4 Tự sự… bạn 14 bài
      5 Tự sự … tình 18 bài
      6 Từ vách này thời gian ta gõ (Trường ca) Và (Lời cuối)
      7 Tùy bút đời tôi 10 bài
      8 Bày nhện và nhà thơ 3 bài
      9 Tự sự … mình 25 bài.
      Tập thơ dầy 350 trang, quả là một sự tiềm ẩn khổng lồ!      
Một Hoàng Vũ Thuật với Chiếc ghế bỏ trống (Nhớ nhà viết kịch Phan Xuân Hải): Đã trống một chiếc ghế/ Thế gian này sẽ còn trống nhiều chiếc ghế/ Lại thừa hàng trăm chiếc ghế khác (Văn nghệ số 8/2011). Có nghiã là ông nhớ thương một người tài ra đi, và còn nhớ thương nhiều người tài nữa ra đi. Nhưng, lại thừa hàng trăm chiếc ghế khác, là hàng trăm chiếc ghế bất tài, do cơ hội phát vãng, hoặc cơ cấu này khác mà có vậy.
Ngược lại, bạn thơ Lê Đình Ty thì Tôi ứng cử! (Bên biển- Văn nghệ số 9/2011). Nhưng, nhà thơ không ứng cử vào những chức tước hàm hố của những chiếc ghế kia! Nhà thơ ứng cử vào địa hạt cao sang- Ứng cử tình yêu!
Quảng Trị, một Vĩnh Mai- Búa Tạ (1918-1988): Mùa thu dừng lại ở Long Biên/ Để một mình anh lên Vĩnh Yên, rồi Khóc Hoài là hằn sâu nỗi đau mất mát tình đồng đội rất cảm động cho người đời nhớ mãi Vĩnh Mai! Và, một Cao Hạnh kịch bản sân khấu, Cao Hạnh truyện ngắn, bạn đọc đọc thêm một Cao Hạnh thơ gần đây in nhiều trên các báo, thì đố ai mà biết được anh đang cất dấu những gì?
Mảnh đất có con sông Bến Hải cắt chia hai miền đất nước một thời, bao nỗi đau thân phận đâu dễ đã nguôi ngoai. Vùng đất dễ bùng nổ văn học.
Huế, một Thanh Tịnh – Mòn mỏi: Chị ơi con ngựa trên yên vắng người! Cho người đời luôn nhớ ông...
Một Phùng Quán với chỉ một “Lời mẹ dặn” cũng đủ cho người đời tôn vinh ông.
Một Thanh Hải lần đầu theo đoàn miền Nam ra thăm miền Bắc. Họ không đi qua con sông Bến Hải “chỉ một mái chèo”. Đoàn phải trèo đèo, lội suối thượng đạo như những người lính. Xin nói thêm, năm 1957, Bác Hồ chủ tâm vô thăm Vĩnh Linh- Bến Hải. Nhưng ngày ấy “động”, bảo vệ không cho Bác đi. Bác mới dừng thăm Đồng Hới. Thanh Hải ra miền Bắc, được ôm hôn Bác lần ấy, để lại hai câu thơ neo đậu lòng người:

               Cách nhau chỉ một mái chèo
             Mà đi trăm núi vạn đèo tới đây !

Hồng Nhu lên tuổi 80, vừa in hai tuyển tập văn và thơ. Hồng Nhu tham gia cách mạng và sống ở Nghệ An ngót 30 năm, đã từng giữ chức Thường vụ Hội Văn nghệ Nghệ Tĩnh, và bạn đọc biết một Hồng Nhu văn xuôi. Gần 60 tuổi ông mới đưa gia đình vợ con trở về Huế quê hương. Chỉ mấy năm, một loạt tập thơ Hồng Nhu nối nhau xuất bản: Ngẫu hứng về chiều, Chiếc tàu cau, Nước mắt đàn ông, Rêu đá. Và bây giờ, ông còn Nhặt được ở sổ tay số 1 (Văn nghệ số 50/2010) rồi Rút được ở sổ tay 3 (Sông Hương số 5/2011). Hơn 50 năm cầm bút, Hồng Nhu đi nhiều, biết nhiều, ghi chép nhiều thì thử nghĩ ông cứ nhặt chỗ này lúc này, rút chỗ kia lúc kia, đến bao giờ cho hết?
Một Trần Vàng Sao vừa đúng tuổi thất thập. Ông nổi tiếng với bài thơ: Bài thơ của một người yêu nước mình. Bẵng đi một thời gian khá lâu, bạn đọc muốn xếp ông: hiện tượng thơ một bài. Đùng một cái, Người đàn ông 43 tuổi nói về mình, in Sông Hương gây xôn xao nổi tiếng, vừa tai tiếng ? Có lần ngồi uống trà với anh tại nhà, tôi gạ, Trần Vàng Sao làm đơn vào Hội Nhà văn Việt Nam, anh chị em giơ tay hết. Trần Vàng Sao, rất nhanh: Ôi chao chao, thôi mi ơi mi ơi, tau ở Hội Dân là vừa. Tau không vô Hội Nhà nước mô. Vô Hội Nhà nước tau mần được cấy chi mi ! Ai hỏi đến chuyện tác phẩm, Trần Vàng Sao, một tay ôm đầu, một tay xua xua, miệng lẩm bẩm: Tau quên, tau quên hết rồi. Tau không còn nhớ tau đã viết gì? Chắc là ông vờ vậy thôi. Tôi biết, ông nhớ rất tường tận về cuộc đời ông và những người có liên quan với ông .
Trần Vàng Sao, tên thật là Nguyễ Đính, vừa viết xong Hồi ký Trần Vàng Sao khá dầy, và 5 trường ca đang nhét trong tủ, như trường ca Ngậm ngãi tìm trầm, trường ca Tau chửi,trường ca “ Bản thánh ca của một người dựa cột đình liếm lá bánh”, trường ca “ Gọi tìm xác đồng đội”, v.v... Chẳng hiểu nội dung nó như thế nào? Chỉ nghe qua cái đề đã thấy thơ độc!
Thơ khó viết, Lâm Thị Mỹ Dạ, đã Kéo cờ trắng, xin hàng! Nhiều bạn thơ gửi thư cho Dạ ra lệnh: Hạ cờ trắng xuống! Và Mỹ Dạ lại viết: Cho anh tựa vào em! Sự vững chãi, bản lĩnh của một quả núi.
Và một Vĩnh Nguyên, Nhìn:

          ...Một hôm say nhìn hình như đỉnh núi có lõm xuống
          Kỳ thực đỉnh núi không còn nhọn như ngày xưa
          Ở đó còn kéo xuống một con đường
          Như đường rẽ ngôi trên đầu người... (Tạp chí thơ số 4/2009). Nhìn để thấy cặp đối sánh giữa thiên nhiên và trí tuệ con người đang bị bào mòn…, vậy!
Một Nguyễn Khắc Thạch có câu thơ ấn tượng:

         Có nhà thơ danh tiếng/Xỏ giày đinh/ Rẽ lối quan trường!
Là ông phát hiện một thực trạng nhố nhăng tráo trở của những ai đó ở những đâu đó mới xuất câu đó.
Và bạn thơ Đức Sơn, Viết từ triền Hương Giang. Với cánh mỏng hoa sim. Nói triền Hương Giang với cánh mỏng hoa sim, nếu bạn đọc ở xa tinh ý, cũng có thể luận ra nó ở đâu ? Riêng người dân xứ Huế thì cảm nhận ra liền. Đó là những địa danh đẹp nổi tiếng, không là đồi Vọng Cảnh thì đó là núi Ngọc Trản (Hòn Chén- Điện Huệ Nam), chứ đôi bờ Hương Giang, từ cửa Thuận An lên tới ngã ba Tuần, không nơi đâu có triền đồi? Tác giả viết:

           Tôi phận mỏng không thể chạm
                                               cánh mỏng hoa sim nhạy cảm!
           Mắt môi chạm triền Hương Giang với gió thay lời.
Người thơ yêu Huế, trang trọng tinh tế, tôn vinh di sản, thế mà suýt nữa đồi Vọng Cảnh biến thành Life Resort của một thương gia Hà Lan. Vị trí Resort sát Nhà máy nước Vạn Niên, và nếu hình thành Resort thì có thể biến tướng Vọng Cảnh. Còn người dân thành phố uống nước trong lành Vạn Niên xưa nay, giờ được “pha” thêm “mùi Resort “ ?

            Tôi phận mỏng không thể chạm
                                            cánh mỏng hoa sim nhạy cảm !

Cánh hoa sim mỏng, thân phận người còn mỏng hơn trước thiên nhiên, nếu biết nâng niu, gìn giữ thì còn, mà thô bạo chạm thì có thể tan cả hai phía ?
Ta quý một tình yêu chân thành, một người thơ có hồn cốt in lên danh thắng Huế một câu thơ hồn cốt !
Tôi viết bài nầy khai thác theo một mạch vỉa cảm xúc thơ riêng, nên nhiều nhà thơ tên tuổi, tác phẩm đoạt nhiều giải thưởng vẫn không đưa bình ở bài viết nầy.
Huế, tháng 8/2011
Vĩnh Nguyên
Hội Nhà văn, 26 Lê Lợi, Tp Huế
Tel : 0126 2566 822