Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012

Chờ mong một giọng thơ mới Thủy Hướng Dương


Chờ mong một giọng thơ mới Thủy Hướng Dương

Nguyễn Nguyên Bẩy

.
1. Một thời gian rất dài, tôi nhấn mạnh là rất dài, rất nhiều năm, sau 1975, cuộc chiến tranh chống Mỹ kết thúc, tôi bị ám ảnh một cách tiêu cực với bài thơ của nữ sĩ Nhật Bản Nôrikô Ibaraki (sinh 1925) Khi Tôi Còn Xinh Đẹp. Đây là bài thơ chua chát đến tận cùng của sự tiếc nuối những năm tháng tươi tốt của cuộc đời bị cuốn vào lửa đạn chiến tranh, người con gái đã chẳng được thụ hưởng những gì trời ban cho khi còn xinh đẹp, để đến khi chiến tranh kết thúc, thời xinh đẹp đã qua rồi, cô gái  tiếc giận khôn cùng mà chẳng biết chia sẻ cùng ai. Đây là bài thơ lến án chiến tranh, ghê tởm chiến tranh cực hay, ít nhất là với thi đàn Nhật. Mời đọc qua bản Việt ngữ của nhà thơ Bằng Việt.
.
Khi tôi còn xinh đẹp
Những thành phố vỡ tan
Một mảnh trời xanh bỗng hiện ra
Ở những chỗ không ai ngờ nhất!

 
Khi tôi còn xinh đẹp
Mọi ngưới hấp hối xung quanh
Trên những hòn đảo nhỏ
Và khắp biển xa khơi…
Chẳng một phút nào
Cho tôi được quyền soi gương chải tóc!

.
Khi tôi còn xinh đẹp
Không ai tặng tôi một món quà nào!
Những người đàn ông ngày ấy
Chỉ biết bắn súng chào dậy đất
Biết đứng nghiêm và biết đi đều
Trong trí nhớ của tôi
In hình họ những đôi mắt sáng!

.
Khi tôi còn xinh đẹp
Đất nước thua trong cuộc chiến tranh!
Và tôi đi vô vọng như mọi người
Khoác chiếc áo blu nặng nhọc…
Tôi hoàn toàn cô độc
Tôi hoàn toàn ngu ngốc
Tôi hoàn toàn không hưởng hạnh phúc gì
Khi tôi còn xinh đẹp!

.
Người Nhật, những nam thanh nữ tú của thời kỳ chiến tranh đã than thở đúng, bởi họ đã mất tất cả, bởi đất nước họ đã thua trong cuộc chiến tranh. Khi nhận ra chân lý ấy, nhận ra một cách tự giác, tôi mới hóa giải được những ám ảnh tiêu cực, biến ám ảnh ấy thành tích cực, thành tự hào, là bởi, lớp trai thanh nữ tú thế hệ chúng tôi sinh ra và trưởng thành sau 1945, kẻ ít người nhiều đều đã góp phần vào cuộc chiến tranh dằng dặc ba mươi năm đi đến thắng lợi sau cùng, có nghĩa là thời xinh đẹp của chúng tôi cũng được thụ hưởng nhiều vinh quang dù trong cơ hàn, cay đắng,  vì kết cục Đất nước chúng ta đã thắng trong cuộc chiến tranh!
Tôi đã mang tâm thức ấy để đọc và đồng cảm chấp nhận hay từ chối thơ của những người làm thơ trẻ các thế hệ sau chúng tôi. Thủy Hướng Dương không là ngoại lệ, khi tôi đọc thơ cô.
.
2. Tôi tự hỏi: từ những nỗi đau của bài thơ Khi tôi còn xinh đẹp đến cái sợ của Thủy Hướng Dương trong bài thơ Sợ của cô có khoảng cách? Có đấy, đó là khoảng cách của tư duy thế hệ, của không khí thời đại và của hơi thở thơ của mỗi thì người. Cái sợ của Thủy Hướng Dương trong veo, đời thường và hình như từ xa xưa đến mai sau, mai sau xa lắm, con người ta thường tình vẫn có những nỗi sợ giản đơn như thế. Nào sợ đêm nào sợ ngày, nào sợ những ngón tay đan vào nhau để bện hơi nhau, rồi sợ nắng, sợ gió, sợ cả cỏ cây, sợ rừng, sợ núi và bật cười khi sợ cả những bài ru. Tôi thích bài thơ Sợ này lắm, một cái gì đấy rất nữ nhi, một cái gì đấy e ấp làm duyên và một cái gì đấy như thế sắp thành một giọng thơ riêng. Xin chép toàn bài như một dọc lại để tự thơ ngân nga mà thích.
.
SỢ
.
Không còn trẻ để ngây thơ
Bây giờ mà nói dại khờ ai tin?
Thế mà một ánh mắt nhìn
Cũng làm em sợ… lỡ mình lại yêu?
Sợ đêm buông lấp nắng chiều
Sợ ngày cạn hết những điều khát khao
Sợ ngón tay ấy đan vào
Rối tơ lòng, biết ai nào gỡ cho?
Sợ buồn khẽ rụng vườn mơ
Sợ người lấy cớ sững sờ trăng khuya
Làm sao biết lối mà về
Đôi chân trần vướng cỏ mê mất rồi
Sợ sông suối ngập khóc, cười
Biết đâu đắm cả một đời đa đoan
Gió ru một khúc ngỡ ngàng
Sợ lòng réo rắt muôn vàn nhớ thương…
.
3. Thủy Hướng Dương gọi tôi là Thầy, xưng em, xưng hô đó chỉ ý nghĩa kính trọng tuổi tác, nhưng với tôi em là bạn thơ vong niên, vấn đề quan trọng ở chỗ tôi thích đọc thơ em và tự đáy lòng mong muốn thơ em cất lên một giọng hát riêng, giọng hát mang bản quyền em. Vì mong muốn ấy, tôi chép lại tặng em dưới đây khúc viết của nhà thơ Nguyễn Khôi tìm hiểu vế cách làm thơ của người xưa mà tôi rất tâm đắc, cũng là để đáp lại tiếng thầy khiêm nhường em gọi tôi.
.
Nhà thơ Nguyễn Khôi viết:
Con người ta sở dĩ bay lên được là nhờ hai cái cánh: văn học và khoa học.
Văn là người có học vấn (trái với võ), văn hóa là dùng văn tự (chữ nghĩa) mà giáo hóa con người. Bậc Thánh nhân thì lập Đức, danh tướng lập Công, sỹ đại phu lập Ngôn. Thi thư là những bộ môn giường cột của văn học. Thuở còn sơ khai, các bậc huynh trưởng dùng thơ ca để dạy con em, để chúng trở thành người chính trực ôn nhu, rộng lượng, kiên nghị, cứng cỏi mà không thô bạo, giản dị mà không ngạo mạn. Thơ dùng để nói Chí, Ca dùng để ngân dài lời Thơ. Thơ ở trong lòng là Chí, phát ra lời là Thơ (Chí có nghĩa là dừng ở trong lòng nên nó được gắn với hai chữ Tình và Ý).
Ông cha ta xưa làm thơ là học theo lối Đường-Tống: “Nhà thơ khi có "thi hứng" thì hồn thơ cất cánh bay bổng lên những khoảng trời cao rộng. Luật lệ, quy tắc (các thể thơ) là để điều khiển cái Hứng, giúp cho lối phô diễn được hoàn hảo, đẹp đẽ hơn, du dương hơn chứ không phải để bóp chẹt cái Hứng, phải biết vứt bỏ luật lệ để giữ cái Hứng, chứ không nên hi sinh cái Hứng cho luật lệ. Thơ là để tả nỗi lòng, tả bằng hình thức nào cũng được (cổ phong, luật thi..) Hễ tả mà cảm động được lòng người là mục đích đã đạt. Thơ không phải chỉ là những chữ ghép cho thành vần, cho có đối, cho đủ bằng trắc. Các bậc tài hoa theo luật mà không chịu nô lệ nó. Họ biết phá luật để theo Hứng, đã tạo nên những bài thơ bất hủ như “Hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu, “Anh Vũ Châu” của Lý Bạch, “Đăng Cao” của Đỗ Phủ… đều thoát khỏi sự câu thúc của niêm luật. Sự tác động qua lại của Thi hứng và luật lệ có thể tăng cường hoặc trói buộc Thi Hứng – nhà thơ phải lao tâm khổ tứ để tạo được những bài thơ hay là thế.
Công việc làm thơ đầu tiên là "luyện chữ": cách dùng từ (chữ) như thế nào, bố cục thơ ra làm sao. Đỗ Phủ đã tâm sự “ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu” (chữ chẳng kinh người, chết chẳng yên). Bì Nhật Hưu thì nói “bách luyện thành tự, thiên luyện thành cú” (trăm lần luyện mới thành chữ, nghìn lần rèn mới thành câu). Đến "luyện câu" thì khởi – thừa –chuyển – hợp như thế nào, khử đối ngẫu ra làm sao, luật bằng trắc ra sao, gieo vần thế nào? Luyện chữ đã khó, ví dụ “chữ mắt“ (nhãn tự) đặt ở đâu để nó tỏa sáng. Câu thơ hay phải có chữ hay đó là những hạt linh đan làm cho đá biến thành vàng. Luyện chữ để cho chữ linh hoạt, sống động, cựa quậy, không nằm bẹp trên trang giấy. Luyện câu lại khó hơn, rồi đến luyện ý (tạo ý mới, tứ lạ) và bao trùm là "luyện cách"… thơ không có “thi cách” (phong cách riêng của từng nhà) thì coi như vứt đi, loại bỏ. Bảng nhãn Lê Quý Đôn từng dạy: “một bài thơ hay phải có đủ tình, cảnh, sự - mà trong đó Tình là người, Cảnh là trời, Sự là hợp cả trời đất mà quán thông…”
Người xưa dùng đạo lý sáng/tối để tìm hiểu thơ ca, với quan niệm ”nhìn không thấy không phải là không có, mà là chúng ta không thấy mà thôi”. Ví dụ: mặt trăng vào thượng tuần đến ngày mùng 7, mùng 8 nó mới xuất hiện một nửa, còn một nửa kia không thấy được. Cái nhìn không thấy ấy là Đạo Lý, điều mà ta nhìn thấy là sự thật. Ta dùng hình tròn của mặt trăng để biểu thị thi vũ (vũ trụ thơ) khi mặt trăng hiện ra hình bán nguyệt, một nửa phát sáng để biểu thị mặt sáng trong thơ, nửa kia không phát sáng đại biểu bằng hư tuyến (màu đen) để biểu thị mặt tối trong thơ, hai mặt này đồng thời tồn tại.
Mặt biểu hiện bề ngoài của thơ (mặt sáng) ta thấy  được đó là "phong cách" của thơ, ý và tình được diễn đạt bằng cú pháp, luật bằng trắc, cách gieo vần bằng các con chữ, ấy là mặt ta có thể thấy được (hiển hiện trên mặt giấy viết); còn những cảm thụ mà thơ mang đến cho ta (cái thứ ẩn dụ, ý tại ngôn ngoại, một thứ “tiếng thầm” – đáo địa nhất vô thanh (là mặt tối) ta không thể trông thấy nhưng ta cảm được. Sự linh diệu, thần diệu của thơ là vậy.
.
4. Tôi theo những dòng luận trên của nhà thơ Nguyễn Khôi, hóa thân thành con sẻ nhỏ đi nhặt những hạt vàng thơ Thủy Hướng Dương.
Bốn câu thơ này trong trẻo quá, gợi quá, gợi như hạt bắt đầu gieo, đang chờ đợi dưỡng thành cây: 
Em như ngàn cỏ dại
Càng mọc…càng hoang vu
Một dấu ngựa yêu (chạy) vờ
Cũng oằn mình thảng thốt
(chữ chạy trong ngoặc người viết mạo muội thay vì nghĩ chữ yêu dụng chưa đắt). Hạt thơ đã gieo, còn việc cây thơ mọc thế nào, Thủy Hướng Dương tự mình ngâm nga lại mà biết.
Hai câu này thơ quá thơ ơi:
Đam mê nhoẻn một nụ cười
Gặp mình bối rối như thời ngày xưa
Này em gái, tặng em hai câu này nhé, chợt thấy thơ giao thoa mà bỗng nhiên lòng ngân nga đồng cảm: Soi gương vui cả mặt gương/ Tình yêu nhón một cánh chuồn chuồn bay (thơ NNB). Có phải bối rối em như bối rối mình gặp mình trong gương, bóng em trong gương vui đến nỗi gương cũng vui lây, có khác gì Gặp mình bối rối như thời ngày xưa?
Đi chợ Viềng mà viết được bốn câu này thì kể như đã mua bán đủ cái may xui bầy bán ở chợ Viềng: 
Có cần mặc cả gì đâu
Mắt em đánh sóng ướt câu thơ nào?
Bỗng dưng sương khói nôn nao
Bỗng dưng thương nhớ trộn vào nhớ thương.
Đã thấy mầu sắc ca dao lúng liếng, đừng nghĩ rằng viết mộc được gần như ca dao mà dễ nhé, khó lắm lắm đấy, Mắt em đánh sóng ướt câu thơ nào ? Câu thơ nào vậy, tình thơ? 
Bài thơ Người Đàn bà Bán Rong Trên Đường Phố là bài thơ tả chân khá hay, thực lòng mà nói toàn bài chưa thật bích (mà thế nào là thật bích?) vẫn có một cái gờn gợn pha trộn giữa thơ và chưa thơ, nhưng viết được những câu lả lướt trích dưới đây cũng đủ cho Thủy cái Tự tin là mình hái được quả thơ, mà không ít trường hợp trồng cây thơ cả đời chưa chắc đã hái được trái thơ nào nếm được, chứ đừng nói là hồn rung động được. Thật mộc, thật mềm, âm hưởng một chút ca dao mẹ, một chút nghệ nhân ca ngâm hát vịnh. Nghe mê lắm.
Nhìn con chim lạc cuối trời
Thẫn thờ tưởng gió thả nơi quê nhà
Còn đâu bến nhuộm chiều tà
Cánh cò bay lả, bay la trên đồng
Và nữa:
Ngửa bàn tay bụi lấm lem
Thương mùa cấy gặt, thương đêm hội hè…
Chao ôi là đúng, phát hiện và ghi vào thơ thế này thì Thủy Hướng Dương chắc chắn là người đầu tiên: Có khi nào ôm nhau mà ngủ được không anh? Em bồng bênh, bồng bênh…Giữa chiều mơ không nhắm mắt. Âm dương thanh khiết như trăng, như hoa vừa bừng nở chợt bay đến một bướm ong, khỏa thân đẹp như lụa, có ai người không ngất ngây, có thể nào ôm nhau mà ngủ được nhỉ? Đúng là thơ có cánh.
Cây thơ Thủy Hướng Dương còn nhiều quả thơ đẹp lắm, nhưng không hái nữa, chẳng nên tham.
.
5. Ở trên tôi có nói lời mong cầu một giọng thơ riêng, lại dẫn cả những mách bảo của nhà thơ Nguyễn Khôi, và hái vội nhiều trái thơ ngon trên cây thơ của Thủy. Nhưng, đến khi bắt gặp bài thơ Trò Truyện Với Con Đường, thì tôi bỗng hiểu, Thủy Hướng Dương đã đang và sẽ chọn cho mình con đường tu thân đi tới giọng thơ mang tên mình. Mời đọc trọn bài thơ viết mới đây, đề ngày 10/11/2010, để đồng cảm cùng Thủy Hướng Dương.
.
Trò Truyện Với Con Đường
.
Ta vẫn thường và vẫn muốn tự tin
Có thể một mình bước trên con đường đầy gai và đá nhọn
Lẽ thường là thế
Ai chắc cuối đường là máu hay là hoa?
Ta vẫn thường mai mỉa bằng thói kiêu sa
Rằng gai và đá chẳng có nghĩa gì
khi ta đi bằng chính đôi chân dẻo dai, cần mẫn
Ta nhạo cười ngơ ngẩn
Những người đàn ông mải miết đuổi bóng hồng
Lẽ thường là thế
Ai chắc cuối cùng bóng hồng sẽ đổ về đâu?
Ta miệt mài tìm kiếm giữa bể dâu
Một chút nắng vương
Một làn gió nhẹ
Một ánh mắt hiền chia sẻ lúc ta đau
Lẽ thường là thế
Ai chắc cuối đường không có kẻ bao dung?
Và ta muốn đi… đi đến tận cùng
Nhưng lẽ thường là thế
Ta có phải thánh đâu?
Thế là vẫn lạc, vẫn nhầm, vẫn cứ ngu ngơ như người nguyên thủy 
Và lẽ thường là thế
Ta vẫn vô tư khám phá những con đường
Ở đó có người đàn ông chạy theo những bóng hồng
Có men rượu, men tình
Có cả men đau rập rình nơi xa lắm
Rồi lẽ thường là thế
Ta vẫn cứ đi… đi hết con đường
Nhưng bây giờ sẽ đi bằng đôi chân rớm máu.
.
Nguyễn Nguyên Bảy

Thơ Hoàng Xuân Họa



BA BÀI THƠ NGẮN
.Hoàng Xuân Họa
.

ĐÊ CHIỀU
.
Đường mùa xuân rung bàn chân bước
lối cỏ may xào xạc gió đông

quả khế chua rụng vàng nỗi nhớ

con đê chiều còn nhớ anh không

NGÂY DẠI
.
Bóng núi ngả đầu vào bóng núi
anh thôi đành thả nắng vào mây

theo con suối chảy êm bờ mộng

khúc dạo đầu đã dại… lại ngây

CHÚ HOẴNG GẶP MAY
.
Chai rượu đầy
chờ rót vào khoảng tối

bỗng chú hoẵng tuột dây chạy thoát về rừng

một bầy dao thớt băm nhau

rừng khuya đêm sương lại vang tiếng hoẵng


Tháng 1/ 2012 haixuanhxh

Chùm thơ xuân Kinh Bắc của Nguyễn Khôi


Chùm thơ xuân Kinh Bắc của Nguyễn Khôi

 Nguyễn Khôi

1.
NGUYỆT GIANG XUÂN SẮC
.
Xuống bến sông Cầu hóng gió đông
Hoa cải vàng mơ nắng mật ong
Ai người đi chợ Chờ vui thế (1)
Líu tíu xuân tươi ửng má hồng.
(1) chợ Chờ = huyện lỵ Yên Phong.

2.
NHỚ NHÀ THƠ ANH VŨ
.
Chửa lên chơi Dĩnh Kế
Cùng Anh Vũ “thẩm” thơ
Sông Thương chiều lộng gió
Tha thẩn “Bến sông chờ” (1)
(1) Anh Vũ bình bài “Bến sông chờ” của NK.

3.
NGÕ NHỎ
.
“Còn đâu ngõ nhỏ em phơi thóc
Hong cả tình anh trên lũy tre”
*
Ngõ nhỏ
thuôn thuôn
Rặng xoan
Gốc khế
Áo nâu non em gánh lúa về
Con Vàng Anh bên thềm thóc mách
Lũ Cò ngóng mẹ mé bờ tre.
Ngõ nhỏ
đêm buông
Trăng non lấp ló
Anh ngồi hóng gió
thổi sáo vi vu…
Để ai nghe “khúc Trương Chi” tình tứ
Ngoài bến sông thuyền đậu lắng sương mờ…
Ngõ nhỏ
Anh đi…
Ngày về lại
Chẳng còn ai đứng bên giậu đợi Người
- Cô ấy lấy chồng trên Phố Chợ
Ngõ nhỏ
Im lìm
Gió dong chơi…

4.
VỀ PHỦ TỪ
.
Đi xa cứ nhớ Phủ Từ (1)
Phố quê- đền miếu kính thờ Đức Vua
Ngày về đến bến sông xưa
Vừa hay “Bát Đế vân du” ghé thuyền.(2)
(1) Phủ Từ = quê NK ở làng Đình Bảng là trung tâm Thị xã Từ Sơn.
(2) có hiện tượng 8 đám mây vàng ghé thăm trên bầu trời Đền Đô nhân ngày hội rằm tháng ba tưởng niệm các Vua nhà Lý.
Quê 1-1-2012

NỮ SĨ ANH THƠ Với mùa xuân Quê hương Việt Nam


NỮ SĨ ANH THƠ  Với mùa xuân Quê hương Việt Nam

Lê Xuân Quang
Tiểu luận

Có rất nhiều văn nghệ sĩ sáng tác về đề tài mùa xuân quê hương Việt Nam. Các tác phẩm đó (văn – thơ – nhạc – hoạ) đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc, người nghe, người xem. Một trong những người nghệ sĩ tài năng là Nữ sĩ Anh Thơ (tên thật Vương Kiều Ân) .
Ngay từ khi mới xuất hiện trên thi đàn Việt nam với tập thơ Bức Tranh Quê (1937), Bà Vương Kiều Ân (Anh Thơ) đã được người đọc đương thời mến mộ, thi đàn kính nể. Tổ chức Tự lực văn đàn – một tổ chức do 7 Nghệ sĩ tài danh trong giòng Thơ Mới Việt Nam đương đại – đã vinh danh , trao giải khuyến khích cho tập Bức Tranh Quê vào năm 1939 khi bà mới 18 tuổi. 
Bức Tranh Quê chỉ có 48 bài, mổi bài – phần lớn 3 khổ – viết theo thể thơ thất ngôn và thơ tự do – tám chữ. (Vì nằm ngoài nguyên tắc của những thể thơ truyền thống nên thơ 8 chữ được thời đó cho là thơ Mới). Cả tập thơ là một bản trường ca về thôn quê Việt Nam trong 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Ðông.
Mở đầu là bài Chiều Xuân (được Hoài Thanh tuyển vào Thi Nhân Việt Nam năm 1942). Bằng 4 câu miêu tả, hiện ra khung cảnh buổi chiều mùa Xuân trên một bến đò ở thôn quê vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, miền Bắc Việt Nam – năm xưa:
Mưa đổ bụi êm đềm trên bến vắng.
Ðò biếng lười nằm mặc nước sông trôi
Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm soan, hoa tím rụng tơi bời.
Ở miền Bắc, mùa xuân ẩm ướt, thường có mưa bụi dân gian gọi là Mưa xuân. Khí trời ấm lại sau hơn 3 tháng mùa Ðông hanh khô, rét ngọt. Mưa nhẹ khiến cây cỏ, hoa lá, đồng lúa tươi xanh mơn mởn.
Bến đò này nằm trên bờ con sông không qúa lớn nối từ 2 sông Cái (sông mẹ) vào. Mưa xuân kéo dài triền miên nhiều ngày khiến đường lầy lội, người , súc vật đi lại thưa vắng.
Con đò được neo giữ, như kẻ ’’biếng lười’’ nằm mặc nước sông trôi khiến thân đung đưa, vật vã mà chẳng thèm cưỡng lại. Mưa xuân, trên đường không có người đi , mấy quán hàng mái tranh, trên bến đò – đứng im lìm đón khách.
Trên bờ sông có con đê nhỏ.
Dưới chân đê lưa thưa vài mái tranh nghèo nép bên dưới rặng soan. Trên cành soan, đây đó buộc những chiếc tổ sáo do các cậu bé lây phên rổ (rổ bị hỏng, rách) – quân lại, dụ sáo vào đẻ, bắt sáo non về nuôi, dậy sáo nói. Hoa Soan nở… những chùm hoa tím thơm hắc… ’’rụng tơi bời’’ xung quanh gốc, vương vãi khắp nơi khiến cả một vùng hương thơm ngào ngạt.
Từ bến đò, hướng nhìn lên trên mặt đê, về phia xa xa :
Ngoài bờ đê cỏ non tràn cỏ biếc
Ðàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ
Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió
Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.
Trên bề mặt đê, hai bên lối đi, ”cỏ non tràn cỏ biếc”.
Cỏ non mới nở.
Cỏ biêc đã nở được nhiều ngày.
Trong vạt cỏ, côn trùng các loại cùng nhau sinh sống. Những con Sáo có đôi mắt tinh tường, có thói quen nhận biết từ cuộc sống của mình nên tìm đến bãi cỏ kiếm mồi về nuôi đàn con đang há mỏ đứng trong miệng những cái tổ – đặt trên các cây soan gần đó – thò cổ, réo gọi bố mẹ. Nhìn lũ sáo mổ chổ này, chô kia… tưởng chúng mổ ”vu vơ” nhưng thực ra chúng mổ rất trúng con mồi, mắt thường của con người không nhìn thấy.
Thỉnh thoảng cơn gió đông ào tới, những con bướm đang bay bị gió thổi, không chịu được sức đẩy, chúng phải gượng chống… Khi làn gió tan, cánh bướm lại trở về vị trí cũ. Trông cứ như cánh bướm đang nằm trên mặt nước bị sóng xô khiên hình ảnh trở nên ”rập rờn”. Lát sau làn gió cũ tan, gió mới tới, những con bướm đã di chuyển tới vị trí khác và cảnh cũ lặp lại.
Sau vụ cấy, những con trâu kéo cầy kéo bừa mất sức, gầy đi. Giờ đã cấy xong, thư rỗi, người chủ có thời gian rảnh chăm bẵm cho trâu lấy lại sức chuẩn bị cho vụ tới. Chúng được dắt ra bờ đê cho ăn cỏ tươi. Ðối với trâu, bò, cỏ non tươi của mùa xuân chính là bữa tiệc. Trời cư mưa, trâu cứ lăng lẽ liếm vạt cỏ trên đường. Chiêc lưỡi và hai hàm của nó lia liếm, cắt, nhai cỏ, phát ra tiếng sột soạt. Ðứng từ xa nhìn hạt mưa loang loáng rơi bao trùm cậu bé ngồi trên lưng Trâu, trùm kín trong chiến nón và áo tơi lá xòa che cả lưng trâu(3) – cứ tưởng trâu đang ”ăn mưa”.
Ðưa mắt nhìn xuống chân đê : Ðồng lúa xanh tươi. Gio đông thổi lúc nhẹ lúc mạnh. Ðây đó, thỉnh thoảng thấy bóng người mặc áo tơi nón lá, cặm cụi làm việc trên cánh đồng:
Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng
Lũ cò con, chốc chốc vụt bay ra
Làm giật mình một cô nàng yếm thắm
Cúi cuốc cào, cỏ ruộng sắp ra hoa.
Lúa non. Lá cây được mưa xuân tưới đẵm như kích thích sinh trưởng.
Mới tháng đầu của mùa xuân, lúa đang chớm Thì con gái. Gió nhẹ, đồng lúa như tấm thảm lụa, được gió đông thổi khiến thảm lúa xanh rờn như làn sóng lúa…
Ðể giúp lúa có đà lớn ra hoa kết hạt đúng thời vụ, nông dân phải làm cỏ ở dười gốc. Nếu để cỏ phát triển sẽ hút hết chât mầu của đất làm lúa chậm lớn, ảnh hưởng tới sự phát triển của cây. Công việc này đòi hỏi sự nương nhẹ, khéo tay, bền bỉ – vì cây lúa rất mảnh dẻ nếu đụng mạnh vào gốc, đứt rễ, cây bị thương tích chột đi, ảnh hưởng tới làm đòng – tạo ra hạt lúa mẩy sau này. Công việc làm cỏ dưới gốc lúa đang phát triển – đòi hỏi đức tính kiên trì, tỉ mẩn, cần bàn tay khéo léo, nhẹ nhàng… cho nên việc cào cỏ chỉ giành cho các mẹ, các chị.
Cũng trong khung cảnh, thời gian lúa đang con gái, lũ chim cò, chim cút thường lẩn dưới gốc lúa tìm mồi. Khi ”cô nàng yếm thắm” đưa chiêc cào cỏ tới gần.., lũ chim sợ, vụt bay lên. Cánh chim quạt gió đập phải lá lúa kêu đánh ”soạt”: Người và chim đều giật mình!
Với 3 khổ thơ, 12 giòng, 96 chữ, Nữ sỹ Anh Thơ đã miêu tả – vẽ Bức Tranh Quê Việt Nam như bức tranh Thủy mạc diệu kỳ. Người đọc Việt ở bất cứ đâu, của bất cứ thời đại nào , khi đọc lại Chiều Xuân – Bức Tranh Quê cũng đầy cảm xúc vê Mùa Xuân Quê Hương!
Berlin – Mùa Xuân 2012
LXQ
—————————-    
(1)Thơ cũ thường quy tụ ở các thể : 7chữ, 8 câu (Thất ngôn, Bát cú – Đường Luật). Sáu Tám (Lục bát). 5 chữ (Ngũ ngôn), 7 chữ (Thất ngôn), hoặc Song thất lục bát (hai câu 7 chữ, tiếp theo 1 câu sáu, 1 câu tám). Thơ cổ còn dùng một thể khác chỉ có 6 chữ (thơ Vua Lê Thánh Tông)- Hiện nay các nhà thơ ít dùng thể loại này.
(2) Bà tên thật là Vương Kiều Ân, but danh Anh Thơ. Bà sinhn năm 1921 – mất năm 2005 thọ 84 tuổi.
(3) Loại áo tơi này làm bằng lá gồi lợp nhà. Hình lăng trụ. Choàng vào y hệt chiếc váy đầm của phụ nữ. Loại áo tơi này chống nóng, nắng, mưa, rét – rất hữu hiệu, tuy cống kềnh và nặng.

Nguồn: Ngang Qua Cuộc Chơi

XUÂN ĐA TÌNH


XUÂN ĐA TÌNH
. 
Lời đôi trai gái người Êđê
.
YBNâu (nàng):
 -   Đêm nay vui bạn bè anh em

Ta uống cho say trời đất

Chóe rượu này vơi lại sẽ đầy

Em cho anh uống cả hai bầu vú em

Rượu tình không bao giờ cạn...


KPaLUNG
(chàng):
-   Chóe rượu của anh lúc nào cũng đầy

Em như con nai tơ động đực

Nhưng anh muốn uống hai chóe rượu
trên ngực em
Bằng lòng không bằng lòng, ơi con nai non
!
Anh chạy theo mặt trời chiều sẽ tóm được.


Nguyễn Anh Biên
(Bài thơ trích trong truyện ngắn cùng tên của chính tác giả) 

Lời bình: Phạm Ngọc Thái
.
Nguyễn Anh Biên là một nhà viết kịch, đồng thời trong nghiệp bá văn chương ông còn viết rất nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết. Ông chưa bao giờ làm thơ. Ấy thế mà khi viết thiên truyện ngắn "Xuân đa tình", cao hứng ông đã tung bút để nẩy ra một bài thơ tình thật độc đáo và cũng thật... điên! Bài thơ trên thực ra không có tên đề, tôi tạm lấy tên truyện ngắn của ông mà đặt cho bài thơ vậy. Có thể nói: Bài thơ ấy đã chứa đọng trong nó những yếu tố rất nhân lõi cho truyện ngắn của ông.
Đó là những lời yêu đương nồng nàn của một đôi trai gái người Êđê, ngồi bên chóe rượu cần vào đúng cái đêm 30 Tết. Lui lại những tháng năm trước, thưở còn chiến tranh, ta từng chứng kiến tình cảm của nhân dân, nhất là đồng bào thiểu số khi có những người chiến sỹ ngoài chiến trận đến... rất nồng ấm, ân tình. Đêm ấy, trong ngôi nhà bản hân hoan tiếp đón một tổ trinh sát từ miền xuôi lên.  Lúc say rượu, say tình bả lả... cả tình gái trai cũng đã rạo rực trong trái tim người con gái dân tộc. Bởi vì: trước mắt YBNâu những anh chiến sỹ ấy là những chàng trai người kinh tuyệt vời, đầy cám dỗ đối với nàng. Nàng đã hát:
                Đêm nay vui bạn bè anh em

                Ta uống cho say trời đất

 " Ta uống cho say trời đất " - Nghĩa là, trái tim nàng đã say! Trái tim người con gái, hay là trái tim đàn bà đã rung lên xao xuyến... vì cả rượu lẫn tình yêu chan chứa. Men tình, men rượu ngấm vào tận da thịt cơ thể YBNâu, như tác giả đã tả trong truyện:
      "... YBNâu với thân hình cao lớn cân đối, da nâu bóng, tóc rễ tre đen nhánh hơi quăn, buông xõa trên vai trần, đôi mắt nâu mí to xa vời vợi, mơ mộng như rừng buổi sớm khi bình minh chưa kịp tở. Trông nàng tựa như cô gái Bô-hê-miêng ".
      Nàng đã mượn rượu, mượn đà để mà thổ lộ ra những lời lả lơi, tình tứ:
                Chóe rượu này vơi lại sẽ đầy

                Em cho anh uống cả hai bầu vú em.
      Đọc câu thơ đến sửng sốt, gai góc giật mình. Ta phải vỗ đùi đánh "đét" một cái mà kêu lên:
-  Nguyễn Anh Biên chơi thơ thật tuyệt!
      Viết đến như thế mà tình người con gái vẫn trong sáng, không tục mới sướng chứ! Tôi chợt nhớ tới đôi câu thơ của bà Hồ Xuân Hương trong bài "Thiếu nữ ngủ ngày":
                Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm

                Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông.
      Bà cũng đã đi vào cỗi rễ, nhưng đấy là cỗi rễ của thơ bà Hồ Xuân Hương. Còn Nguyễn Anh Biên đã để cho người con gái bộc lộ hết mình và tình thơ đã tự kết lại! Nó có vẻ tục mà vẫn thanh tao chăng? "thanh" vì nó chân chất, hồn nhiên không dụng ý. Cả cái suồng sã ấy cũng là thứ trong trẻo của đất trời, tạo hóa phú ban. Ta thấy sướng thơ, nó ngâm ngấm và muốn nhấm nháp hương vị hoa nhài, hoa lan của tình thơ ấy. Thật là ngôn ý phàm trần mà vẫn thơ! Viết được những câu như thế đâu phải dễ? Như người họa sỹ vẽ nuy về người đàn bà mà không giỏi thì người xem thấy sượng, không muốn coi. Rõ ràng ngôn ngữ ấy được tác giả nẩy ra từ sự rung cảm, thăng hoa của tâm hồn. Trong sáng tác không có khả năng cảm thụ ngôn ngữ cao viết sẽ hỏng ngay. Tình thơ lả lơi ấy còn có lý, bởi vì YBNâu là một cô gái dân tộc, lại rất đa tình, mà bản chất người dân tộc là chân chất, thật thà.
      Quyến rũ sự đam mê giới tính cũng thuộc một tính cách rất phụ nữ! Không kể đó là phụ nữ miền xuôi hay miền ngược, thiểu số hay người kinh, dù họ là các da màu khác nhau nhưng tính phụ nữ thường giống nhau. Nàng YBNâu đã buông ra những lời chan chứa yêu đương: Nàng muốn hiến dâng! Cũng chính từ trái tim đang rực cháy của nàng đang đòi hỏi. Sau đó, chỉ thế thôi, tác giả hạ một câu chốt  (cũng qua lời người con gái) để khóa lại khổ thơ đầu:

                Rượu tình không bao giờ cạn... 
    Ngắn gọn, xúc tích, tất cả đều có thể thay đổi hay mất đi, nhưng tình là vĩnh cửu. Thế giới không có sự đam mê gái trai, thế giới ấy không còn sự sống. Tôi gọi YBNâu là cô gái: vì trong tình thơ bộc lộ những tình cảm nồng nàn trai gái, mặc dù YBNâu đã là một người vợ, vợ của KPaLung - Một chàng trai Êđê.
      Tội nghiệp cho cái anh chàng KPaLung thật thà quá, tôi bình sang khổ thơ thứ hai: Vợ mình đang lả lơi, ve vãn với mấy anh chiến sỹ kia, ấy thế mà chàng vẫn tưởng vợ mình tình tứ với mình? Cho nên chàng mới họa tiếp:
                   Chóe rượu của anh lúc nào cũng đầy
                   Em như con nai tơ động đực
                   Nhưng anh muốn uống hai chóe rượu trên ngực em.
      Vậy là, trong tình ái say sưa: Tình cảm muốn hiến dâng của người phụ nữ... và mong muốn được hưởng thụ của người con trai rất giống nhau - Làm cho thơ cấu kết lại. Sức truyền cảm, lay động của tình thơ thêm sâu, tụ đọng. Nguyễn Anh Biên đã mượn rượu, mượn cảnh, mượn tình, khai thác tính cách dân tộc - Để tung hồn, tung bút viết phóng: Thế mà thành thơ, còn đậm đà và chan chứa tình. Ngôn ngữ mạnh bạo quyết liệt, tha thiết của trái tim, thấm được vào lòng người. Ông để cho KPaLung ví người con gái kia:
                Em như con nai tơ động đực
      Trong thi ca ví von đến thế thật đáng "sợ" ! Nhưng đọc lên hóa ra lại có ý khen và ca ngợi. Huống chi đó là lời của một chàng trai Êđê, ý nghĩ hết sức trong sáng và hồn nhiên. Tôi chắc là các cô gái khi đọc những vần thơ đó sẽ không cự lại nhà thơ đâu? Ông nói đúng tâm trạng đấy chứ!? ( Hơn nữa thời nay chị em chỉ thích làm Thị Mầu, có mấy ai lại muốn mình thành Thị Kính? ).
      Bây giờ phong cách thơ ca thời đại đang được mở rộng ra phong phú rất nhiều, để đáp ứng những đòi hỏi cảm thụ mới. Bài thơ đã thành công, hàm súc, giàu tính nhân bản. Ta bàn đến hai câu thơ chót, kết thúc cả bài:
                   Bằng lòng không bằng lòng, ơi con nai non!
                   Anh chạy theo mặt trời chiều sẽ tóm được.
      " Bằng lòng không bằng lòng..." - Không biết tác giả muốn đặt câu hỏi hay có ý khẳng định? Nhưng đọc cả hai câu ta thấy ngay tình tha thiết của người con trai. Lửng lơ như thế hóa ra làm ý thơ thêm tinh tế, mềm mại, không bị cứng nhắc. Lời như câu hát:
                             Anh chạy theo mặt trời chiều...
      Cách nói thật rất Êđê, bản xứ.
     Toàn bài thơ chỉ có 10 câu, tách biệt làm hai khổ. Nguyễn Anh Biên đã hoàn thiện tình thơ " Xuân đa tình ": Tình đời thì thanh thiên, say đắm và đáng yêu. Với bản sắc của bài thơ, nó vẫn có khả năng tách biệt ra khỏi truyện ngắn của ông, để có mặt và góp tiếng nói trong thi đàn đương thời mà không sợ ngượng.
      Mừng cho ông tuy không làm thơ, nhưng đã có được một bài thơ thích!
 
Phạm Ngọc Thái
(Tác giả gửi qua Email)

Bàn thêm về Tứ Thơ


Bàn thêm về Tứ Thơ

NGUYỄN TRỌNG HOAN

.
Đã có nhiều tác giả đề cập tới Tứ thơ . Song một số bài viết thiên về cấu tứ , vì vậy vấn đề quá rộng , khó nắm bắt và thống nhất . Ở đây chúng tôi chỉ đưa ra một số thông tin cơ bản để các thi nhân đóng góp bổ sung thêm .
I. Lý luận văn học cổ điển Trung Quốc
Tứ thơ đã được Lưu Hiệp ( Trung Quốc ) đề cập tới trong chương Thần Tứ, cách đây khoảng 1500 năm . Khi bàn về cấu tứ có giải thích : nghĩa đen của tứ là nghĩ ra , phát hiện một cái gì . Song đến Tư Không Đồ mới nói về khái niệm này rõ hơn .

Các nhà thơ đời sa
u đều đã xác định vai trò của tứ thơ
Theo Tư Không Đồ ( đời Đường ) :
“ Tứ và cảnh hài hòa “. Ở đây đã dược Khâu chấn Thanh giải thích “ Tứ là tư tưởng tình cảm , cảm thụ chủ quan của nhà thơ “ . Ngoài ra ông còn dùng cặp từ “ ý cảnh “ để làm rõ “ tứ cảnh hài hòa “ .
Qua đó cho thấy khái niệm Ý ở đây tương đương với khái niệm Tứ .
Theo Thang Hiền Tổ ( Đời Minh ) :
“ Phàm văn phải lấy ý , thú , thần , sắc làm chủ “
- Ý là ý đồ của tác giả hay tôn chỉ của tác phẩm
- Thú là cấu tứ nghệ thuật tự nhiên thanh thú
- Thần là hình tượng nghệ thuật
- Sắc là ngôn ngữ nghệ thuật
Theo Vương Phu Chi ( Đời Thanh ) :
“ Ý vẫn là thống soái “ : Ý ở đây là tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Nó chiếm vị trí thống soái trong một tác phẩm . Từ ngữ , sự việc chỉ là binh lính dưới sự chỉ huy của vị thống soái mà thôi .
II. Theo một số tài liệu của Việt nam đã xuất bản :
Chàng Văn ( Chế lan Viên ) :
“ Gọi nó là tứ để phân biệt với ý . Chứ tứ chẳng qua là ý lớn toàn bài vậy . Gọi chữ theo thời đại thì nó cũng như cái đề tài cộng với cái chủ đề tư tưởng của toàn bài . Cái tứ bao trùm cả bài ấy phải diễn ra bằng nhiều ý ( nhiều suy nghĩ , tư tưởng ) trong từng đoạn , từng chữ, từng câu . “ ( 1961 )

Theo Xuân Diệu :
“ Từ cuộc sống mà toát ra ý , ý ấy muốn trở về tác động lại vào cuộc sống và tác động bằng phương thức thơ , thì ý ấy nếu đầu thai thành xúc cảm , tình cảm , ý ấy nên trở thành tứ, đó là tứ thơ . “ (1972 )
Sau này một số tác giả như Nguyễn xuân Nam , Hà minh Đức , Mã giang Lân , Nguyễn hưng Quốc , Nguyễn nguyên Bảy đã phát triển làm rõ thêm khái niệm về tứ của một bài thơ , phương thức biều hiện , cấu tứ xây dựng tứ cho một bài thơ . Trong đó cũng có một vài ý kiến đưa ra khái niệm về tứ thơ chưa rõ ràng và chuẩn xác . Ngoài ra Thế lữ , Huy cận , Tế Hanh cũng đóng góp một số kinh nghiệm khi xây dựng tứ thơ .
Cũng nói thêm , tham khảo “ Những bậc thày văn chương “ của Phương Tây chúng tôi chưa phát hiện được tài liệu nào nói về khái niệm này .
III. Một số bài thơ có tứ điển hình có thể lấy làm ví dụ :
- Cánh buồm của Lermontov
- Thời gian của Berton Brezt
- Mất Ô của Tú Xương
- Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ
- Mặt quê hương của Tế Hanh
- Duyệt binh của Chính Hữu
IV, Kết luận
- Ở Việt nam , Chế lan Viên và Xuân Diệu đã cụ thể hóa khái niêm này . Theo trên có thể thấy đây là hai cách nói . Một khái quát , một cụ thể . Song tinh thần có thể thấy đều xuất phát từ lý luận văn học cổ điển Trung Quốc .
- Theo chúng tôi có thể tiếp nhận ý kiến của Chế lan Viên . Khái niệm của ông cho phép ta rộng đường xem xét , ngay cả với thơ trẻ hiện nay .
- Việc lấy ý làm thống soái , coi tư tưởng chủ đề làm trọng , Tứ và cảnh hài hòa , làm thơ không thể thiếu cái tôi vẫn đúng với thơ hiện đại và có thể vẫn đúng với cả phương Đông lẫn phương Tây .

Cũng nói thêm : Ở đây chỉ bàn đến tứ thơ của toàn bài . Ý và tứ của các câu thơ trong bài đã được nhiều tác giả đề cập và khá minh triết nên không bàn . Bài viết cố gắng cô đọng , mong được cảm thông .
Có thể trao đổi thêm với địa chỉ email :
Tài liệu tham khảo :
- Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển TQ , Văn tâm Điêu long , Tùy Viên thi thoại
- Những bậc thày văn Chương – Lê huy hòa và Nguyễn văn Bình dịch
- Các bài viết của các tác giả sau : Xuân Diệu , Hà minh Đức , Trần đình Sử ,Mã giang Lân , Nguyễn hưng Quốc , Bùi công Hùng , Nguyễn nguyên Bảy , Đỗ đình Tuân , Nguyễn Khôi …

Tác già gửi bài qua Email

Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2012

LÝ PHƯƠNG LIÊN, MỞ LÒNG


LÝ PH
ƯƠNG LIÊN, MỞ LÒNG


Lời thưa của LPL trước sách thơ Ca Bình Minh,
NXB Văn Học 2011

 

NĂM 1971 CHÚNG TÔI SINH CHÁU LỚN. NĂM ẤY THUYỀN THƠ XUÔI SÔNG THƠ BỖNG DƯNG GẶP THÁC THƠ, THÁC DỮ QUÁ, VỢ ÔM CON, CHỒNG ÔM VỢ, KHÓC NHÌN TRĂNG MÀ VÙNG QUẪY, MÀ CHIẾN TRANH CÙNG SÓNG GIÓ, MÀ THỀ RẰNG: CHẾT THÌ CẢ NHÀ CÙNG CHẾT, BẰNG SỐNG THÌ  NHẤT ĐỊNH KHÔNG ĐỂ ĐẮM THUYỀN THƠ.

CHÚNG TÔI, LÝ PHƯƠNG LIÊN VÀ NGUYỄN NGUYÊN BẢY LẠI BỒNG CON XUỐNG THUYỀN THƠ, XUÔI SÔNG TRẨY HỘI ĐỜI.

KHI VIỆT THI,TRAI ĐẦU, MƯỜI HAI TUỔI, CHÚNG TÔI CÓ KIỀU THI, GÁI THỨ,CHÁU LÀM NGƯỜI ĐƯỢC MƯỜI NGÀY. BA NĂM, SAU NGÀY KIỀU THĂNG, CHÚNG TÔI MỚI SINH PHƯƠNG NGỌC,GÁI ÚT. NGÀY NGỌC MỘT PHẦN TƯ THẾ KỶ TUỔI, HAI ANH EM TUNG HÔ CHA MẸ IN THƠ, VÀ THẾ LÀ NĂM 2010, QUYỂN THƠ NGUYỄN NGUYÊN BẢY NHẬP THẾ. THƠ BNN ĐƯỢC CHA MẸ Ở CÕI THIÊN KHÓC NHẬN, ĐƯỢC ĐỒNG BÀO Ở CÕI ĐỊA CƯỜI CHÀO. NHÂN ĐÓ, LÝ PHƯƠNG LIÊN CŨNG XẢ TANG LỜI NGUYỀN MÀ TRỞ LẠI VỚI THƠ, GÓP ĐÔI BA HOA CỎ CHO VƯỜN ĐỜI XANH MÁT.

LÝ PHƯƠNG LIÊN TÔI,
CHA MẸ MẤT SỚM, THẤT HỌC, VÌ THẾ THƠ TÔI CHỈ LÀ ĐÔI BA HOA CỎ, GHI CHÉP LẠI CHÍNH CUỘC ĐỜI MÌNH, NÀO NGỜ THÀNH TIẾNG MÕ CẦU RUNG LÊN  HỈ  ÁI, VÀ CŨNG LÀ SẤM SÉT NỘ Ố NHỮNG NĂM 1970 VÀ DÀI THEO NHIỀU NĂM SAU ĐÓ. THƠ LÝ PHƯƠNG LIÊN VIẾT NHỮNG NĂM THÁNG ẤY, SAU KHÔNG VIẾT NỮA, BẤT CHẤP GIÔNG TỐ THỊ PHI, BÃO MƯA GANH GHÉT, KHÔNG QUÌ NHỤC, KHÔNG CÚI ĐẦU. TÊN LÝ PHƯƠNG LIÊN CHA MẸ ĐẶT TRƯỚC SAU KHÔNG ĐỔI, CŨNG NHƯ THƠ TRƯỚC CHÀO ĐỜI SAO THÌ NAY IN RA VẬY. THƠ LÝ PHƯƠNG LIÊN, SAU BỐN CHỤC NĂM  KHÔNG TỰ HOẠI, MÀ GIỮA THANH THIÊN BẠCH NHẬT BỐ CÁO PHÁP NHÂN VÀ ĐÃ KHÔNG VINH HẠNH GẶP BẤT KỲ TRANH CHẤP NÀO, TRÁI LẠI GẶP BAO LA THĂM HỎI KHÍCH LỆ NGHĨA TÌNH, XIN GHI TẠC ĐÁY LÒNG NHỮNG ÂN TÌNH ẤY. NÓI THÊM: TÔI NÍN LẶNG VỚI THƠ SUỐT 40 NĂM NAY VÌ LỜI NGUYỀN TỪ BỎ THƠ CỦA CHÍNH TÔI, KHÔNG VÌ BẤT CỨ SỰ ĐE DỌA, TRÙ DẬP HAY BẤT CỨ ÁP LỰC NÀO KHÁC.MỌI HỆ LỤY XÔ ĐẨY CHÚNG TÔI ĐẾN BẦN HÀN VÀ CƠ CỰC KHÔNG LIÊN QUAN ĐẾN BẤT KỲ CÁ NHÂN NÀO, QUYỀN LỰC NÀO, MỌI ẢO THỰC, TỐT XẤU TÔI TỰ MÌNH CHỊU TRÁCH NHIỆM, KHÔNG THAN OÁN BẤT KỲ AI, VỀ BẤT KỲ ĐIỀU GÌ.
 
NGƯỜI LIÊN QUAN ĐẾN THƠ TÔI VÀ CHỊU NHIỀU CAY ĐẮNG OAN ỨC VÌ THƠ TÔI, LÀ NGUYỄN NGUYÊN BẢY, TÌNH YÊU CỦA TÔI, CHỒNG TÔI, NGƯỜI THẦY DUY NHẤT DẬY TÔI LÀM THƠ VÀ CÙNG TÔI TU THÂN LÀM NGƯỜI TỬ TẾ. TRƯỚC THIÊN HẠ MÀ VỢ NÓI VỀ CHỒNG E LÀ LỐ, NHƯNG EM VẪN PHẢI NÓI VÌ EM HIỂU LÀ MÌNH KHÔNG CÒN DỊP NÀO KHÁC ĐỂ NÓI, RẰNG: NẾU TRỜI CHO EM SỐNG CÙNG LÚC HAI CUỘC ĐỜI EM CŨNG CHƯA ĐỦ TRẢ CÁI NGHĨA YÊU VÀ CÁI ƠN TÌNH MÀ ANH ĐÃ DÀNH CHO ĐỜI EM VÀ CHO THƠ EM.

TÔI ĐÃ VIẾT HAI CÂU THƠ NÀY ĐỂ VINH DANH TRUYỆN KIỀU VÀ NGUYỄN TIÊN SINH BẤT TỬ

HAI TRĂM NĂM CÓ THỂ LÂU HƠN NỮ
THÚY KIỀU ƠI NÀNG SỐNG THÁNG NĂM DÀI…

CÒN THƠ LÝ PHƯƠNG LIÊN TÔI, TỰ XÉT MÀ KHÔNG VÌ KHIÊM TỐN, ĐÓ CHỈ LÀ NHỮNG BÀI THƠ HỌC TRÒ BÌNH THƯỜNG,NẾU KHÔNG MUỐN NÓI LÀ TẦM THƯỜNG, ĂN MAY CÁI HOÀN CẢNH ÉO LE CAY ĐẮNG ĐỜI  MÀ XIN ĐƯỢC NƯỚC MẮT BẠN ĐỌC MÀ THÀNH THƠ. VÌ THẾ LO LẮNG BỘI PHẦN KHI PHỤC SINH LẠI CHÚNG SAU 40 NĂM CHÔN NGỦ. CHẲNG NHỮNG CHẲNG DÁM SO VÍ VỚI BẤT CỨ THƠ AI, BẤT CỨ DÒNG THƠ NÀO, MÀ CHỈ TÂM THÀNH NGHĨ, THƠ TÔI VIẾT ĐÃ LÂU ĐÃ THÀNH CŨ KỸ, KHÔNG ĐÁNG ĐỂ IN RA, KHÔNG ĐÁNG ĐƯỢC HƯỞNG NHỮNG LỜI KHÍCH LỆ TRÀN NGẬP TRÊN MẠNG, KỂ CẢ NHỮNG RAO VẶT LỜI LÒNG XIN ĐƯỢC MUA LẠI SÁCH THƠ TÔI.

NHƯNG THƠ LÝ PHƯƠNG LIÊN, RÚT CỤC CŨNG ĐÃ ĐƯỢC IN RA.IN RA NHƯ MỘT TẠ TÌNH, ĐỀN ƠN, ĐÁP NGHĨA. KHÔNG TRANH CÃI, KHÔNG MƯU CẦU. BẰNG MỌI CÁCH XIN ĐƯỢC CHIA SẺ TÌNH VÀ THƠ ĐẾN BẠN. NGƯỜI KHÔNG CÓ NHU CẦU CHIA SẺ ĐÓ, XIN CỨ COI THƠ TÔI CHƯA TỪNG CÓ, KHÔNG CẦN THIẾT THĂNG VINH HAY HẠ NHỤC.

TOÀN BỘ TRANH VÀ MỸ THUẬT CỦA QUYỂN THƠ LÝ PHƯƠNG LIÊN NÀY THUỘC VỀ CON GÁI TÔI  NGUYỄN LÝ PHƯƠNG NGỌC.

CHÚNG TÔI, TOÀN GIA, VỢ CHỒNG, CON CHÁU, LÒNG THÀNH TRI ÂN VÀ BỘI PHẦN SUNG SƯỚNG, HẠNH PHÚC KHI THẤY QUYỂN SÁCH NÀY TRÊN TAY BẠN VÀ THƠ  ĐƯỢC VUỐT VE MỞ ĐỌC TỪNG TRANG.


LPL, KÍNH BẠCH




CÁI NGHÈO CHẲNG DỄ HIỂU ĐÂU
XA SÂU NHƯ TIẾNG ĐÀN BẦU TRONG KHUYA
LINH THIÊNG LỜI MẸ DẶN DÒ
KIẾP NGƯỜI LÀ MỘT GÁNH LO HÃI HÙNG...


Thơ Lý Phương Liên

Thơ Lý Phương Liên Bài 1&2 sách Ca Bình Minh, NXB Văn Học


Thơ Lý Phương Liên
Bài 1&2 sách Ca Bình Minh, NXB Văn Học



1
TẶNG TÌNH


AI LÀM CẦU BẮC QUA SÔNG
CHO BỜ EM LẠI PHẢI LÒNG BỜ ANH
AI CHO CHIM CẢ TRỜI XANH
ĐỂ ĐẦY TIẾNG HÓT TRÊN CÀNH YÊU ĐƯƠNG
AI CHO THUYỀN VƯỢT SÓNG CỒN
ANH BẺ LÁI,EM GIƯƠNG BUỒM ĐI XA...

THƠ NÀO NÓI ĐẾN ĐÔI TA
NGHE TÌNH YÊU ĐÃ CHẢY RA CUỘC ĐỜI
  


2
TRÒ TRUYỆN VỚI SÔNG HỒNG

 
CHÀO SÔNG HỒNG
SAO MỖI LẦN GẶP EM MẶT SÔNG RẦU RĨ THẾ?
EM HÁT CHO SÔNG NGHE LỜI RU CỦA MẸ:
DẪU GIAN KHỔ MẤY ĐỪNG BUỒN…
SÔNG HỒNG ƠI,CÁI NẮNG BUỔI MAI
CÁI GIÓ BUỔI HÔM
CÁI SÓNG THẦM THÀO…HÃY HÁT
LỜI EM NÓI TRƯỚC SAU NHƯ MỘT
LÒNG EM CHUNG THỦY YÊU SÔNG…
CUỘC ĐỜI MÊNH MÔNG
CHỞ HOÀI PHÙ SA NĂM THÁNG
SỰ SỐNG ĐÔI BỜ TẮM NẮNG
LÚA XANH VÀ DÂU XANH…

EM YÊU SÔNG CÒN BỞI LẼ CHÂN THÀNH
SÔNG LÀ BẠN CỦA MẸ EM SỚM KHUYA VẤT VẢ
MẸ THƯỜNG KỂ: SÁNG NAY SÔNG ÊM Ả
CHIẾU QUA SÔNG GIẬN DỮ ẦM ÀO…
MẸ SANG SÔNG VỀ SÔNG KHÔNG BỎ BUỔI LÀM NÀO
SÔNG THƯƠNG MẸ VẪN CẬP ĐÒ ĐÚNG BẾN .

MỘT BUỔI CHIỀU SẮC TÍM
BUỔI CHIỀU NÀY CÓ THẬT HAY KHÔNG?
MẸ TRÔI SÔNG
GIÓ KHẢN HƠI ĐUỔI HOÀI BÓNG MẸ…
NHỮNG QUẢ BOM GIẶC MỸ
ĐỂ LẠI CHO ĐỜI BAO TRẺ MỒ CÔI
SÔNG HỒNG ƠI SÔNG HỒNG ƠI
KHÓC LÓC BAO NHIÊU CŨNG CHỈ LÀ NƯỚC MẮT
PHÙ SA ĐỎ HÃY VÌ ĐỜI BỒI ĐẮP
MẸ HỒI SINH TRONG CUỘC SỐNG MỠ MẦU

QUA MẤT MÁT NÀY CHÚNG TA THÊM YÊU NHAU…


Thơ Lý Phương Liên
Sách Ca Bình Minh/ NXB Văn Học 2011

Thơ Trữ Tình Thế Giới


Thơ Trữ Tình Thế Giới


TÊN KẺ CƯỚP VÀ ĐẦY TỚ

Brecht,Bertolt (Đức)
Việt ngữ: Bằng Việt


Hai tên cướp ở Ghetxen

Đêm đêm mò đi kiếm chác


Một đưa gầy như con sói đói

Đưa kia như giáo chủ to phè


Dễ hiểu thôi, vì một tên là chủ

Còn tên kia cam phận tôi đòi

Chủ nich đầy bơ sữa, kem tươi

Còn phận tớ có gì nhai nấy


Khi nông dân treo cổ chúng lên

Trên cùng một sợi dây thòng lọng

Một đứa vẫn gầy như con sói đói

Còn đưa kia như giáo chủ to phè


Những người nông dân đứng quanh làm dấu

Không ngừng bàn tán xôn xao

Cái tên béo phì  đúng là kẻ cướp

Còn đứa gầy kia, nên hiểu thế nào?
.

Nguồn: Sách Thơ trữ tình thế giới thế kỷ XX

Bằng Việt ký tặng.

Đừng nhăm nhăm vùi dập thơ trẻ


Đừng nhăm nhăm vùi dập thơ trẻ

Các nhà thơ trẻ khi bước vào thơ ca, đôi khi thích làm hình thức, rối rắm cả lên nhưng đừng vì thế mà nhăm nhăm vùi dập họ vì không cách tân có nghĩa là nghệ thuật đang chết. Đó là điều mà các nhà thơ gạo cội bàn về thơ trẻ.

Nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp: Trong nghệ thuật mà không cách tân có nghĩa là nghệ thuật đang chết. Chính vì thế, cách tân là điều cần thiết là bản chất của nghệ thuật.
Cách tân có hai loại: Cách tân thật sự (tạo cái mới, sản phẩm đích thực) và na ná cách tân (đảo phách đảo nhịp lung tung). Hướng cách tân đầu tiên sẽ tồn tại mãi mãi. Hướng thứ hai sớm bị bạn đọc lãng quên. Xét đến nỗ lực sáng tạo đích thực của nghệ sĩ thì cũng phải phân biệt thế này:  Có những nghệ sĩ họ sáng tạo đến đích và có nghệ sĩ không đến đích nhưng chúng ta đều tôn trọng họ. Những nghệ sĩ sáng tạo không đến đích họ đã kết tinh nghệ thuật còn những người sáng tạo không đến đích thì họ chính là hiện thực để chúng ta xem lại mình, mình sáng tạo theo hướng nào thì hợp lý hơn, hay thấy được trong sự sáng tạo kia ỏ đây chưa được để mình có thể vượt qua nó. Cho nên nó trở thành kinh nghiệm nghệ thuật trong sự đổ vỡ. Người làm công tác phê bình, nghiên cứu cần phải biết trân trọng những cái đó. Chẳng hạn những nỗ lực thơ không vần ở Việt Bắc của Nguyễn Đình Thi bị chê tơi bời, sau này Nguyễn Đình Thi chỉ ngồi sửa thơ của mình theo góp ý nhưng đó là cuộc cách tân bị gãy giữa chừng. Nhưng nó là một kinh nghiệm để thế hệ sau lấy làm bài học, đó là chuyện hết sức bình thường.

Sân thơ trẻ tại Ngày thơ Việt Nam 2009.
Ảnh: Hoàng Hà

Khi chúng ta bước ra khỏi dàn đồng ca của kháng chiến, chúng ta có sự đa dạng về giọng điệu. Sự đa dạng này hết cần thiết của nghệ thuật và sự tự thân của những nhà thơ. Đây là một quá trình bền bỉ. Cần có sự khoan dung của các sáng tạo. Nguyễn Tuân, Nam Cao cũng làm thơ nhưng thơ của họ cũng tàm tạm rồi họ bước sang và thành danh lĩnh vực văn xuôi. Thơ là thể loại bén duyên ngày từ đầu nhưng những ai trụ lại ở lĩnh vực thơ ca và trở thành tài năng tôi đánh giá rất cao. Tất cả các nhà thơ đều đi qua quá trình thử bút để tạo ra một lộ trình mới để đổi mới mình để cách tân, sáng tạo. Các nhà phê bình cứ nhăm nhăm vùi dập nó thì cần phải xem lại.
Nhà thơ Phan Hoàng: Tôi cho rằng thơ cũng giống như một cô gái. Khi mới lớn thì thích chăm chút về hình thức. Các bạn làm thơ trẻ cũng vậy. Khi bước vào thơ ca, đôi khi làm hình thức, rối rắm cả lên. Tôi ví dụ như nhóm Ngựa trời chẳng hạn ngày xưa khác bây giờ khác, rõ ràng là đã chín chắn hơn nhiều. Tất nhiên không phải bạn thơ nào cũng có sự cách tân. Sẵn nói về văn hóa của Mỹ, trong cái dở trước năm 1975, phải nói rằng chúng ta tiếp nhận được cái hay của văn hóa Phương Tây. Chúng ta có những nhà thơ tôi cho rằng tầm ảnh hưởng của họ đối với thơ ca là rất nhiều.
Tôi tin rằng các bạn trẻ làm thơ cũng vậy bước vào làm thơ không xác định mình thế này mình thế khác, trừ một số người còn những nhà thơ mà tài năng đích thực thì sẽ âm thầm, lặng lẽ. Tôi nghĩ rằng thơ là một cái gì đó mang vẻ đẹp thầm lặng.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Tôi cho rằng cái chết với thi ca mà chúng ta vẫn thường nói không phải trong một khoảng khắc nào đó của lịch sử dài bất tận của lịch sử văn học, văn hóa trong 5 năm, mười năm vắng bóng nó lùi đi nó chìm đi đấy không phải là yếu tố giết chết thi ca. Nguyên nhân chính đó chính là tính sáng tạo của các nhà thơ không có. Tính đa dạng của sư sáng tạo, tính phong phú của các nhà thơ sẽ vô cùng quan trọng, nó làm cho thơ ca trở nên  sống động. Vì vậy khi những người trẻ có những sáng tạo thì hãy trân trọng họ.
.
Ban Văn hóa
VietnamNet

Mấy lần định viết… lại thôi

Mấy lần định viết… lại thôi

Trần Thi

Tôi đã đi qua bao bao dòng sông
Bãi bồi chắc chi hớn hở
Bên lở đâu đã đớn đau
Hoan hỉ góp hương mùa no ấm
.
Tôi đã qua bao cánh đồng số phận
Kẻ ngất ngưởng trên cao
Nơm nớp ánh nhìn lương thiện
Người lòng reo theo sóng lúa dâng xanh
.
Tôi nghẹn lòng bên bia mộ các anh
Những liệt sĩ vô danh lặng thầm hòa trong cây cỏ
Từng phải nghiến răng
trước những kẻ xưa mắt lạc thần trước bom gào đạn rú
Nay trên cao phán xét con người
.
Những kẻ lọc lừa nghi ngại cả cái tôi
Lóa mắt quyền lực, bạc vàng, gái đẹp
Nườm nượp trên đường ma quỷ
Sau những nụ cười bụng chứa đầy dao
.
Sẽ còn gì bãi biển nương dâu
Vườn điạ đàng rung rinh trái táo
Trang giấy em tinh khôi
Mấy lần định viết… lại thôi
.
3.2012
Thơ Trần Thi

CHÙM THƠ LỤC BÁT CỦA THI NHUNG. HÀ NỘI


 
CHÙM THƠ LỤC BÁT CỦA THI NHUNG. HÀ NỘI

THÁNG GIÊNG

Lâm thâm rơi mãi lạnh lùng
Để mùa run rẩy, môi hồng kém xuân
Tháng giêng cứ đứng tần ngần

Co ro dành hết cả phần trong năm

Khát khao ấm nụ xuân nồng
Chồi non ngấp nghé lặng thầm gội sương

Lâm thâm phố ướt lạnh phùn
Bần thần nhớ giọt nắng buông cánh đào



PHIÊU DIÊU

Thu còn ngần ấy nữa mà thôi
 Rụng nốt tàn cây chiếc lá rơi
 Rót ánh trăng đêm trời chuyếnh choáng
 Cụng thơ tri kỉ đất mềm môi
 Buông buông sầu oán lòng vơi nhẹ
 Xả xả trầm ai dạ thảnh thơi
 Mai mốt bụi về nơi cát bụi
 Hư danh cũng để lại bên đời.



CỎ MAY

Mệt nhoài nắng tựa triền đê
Luênh loang hắt bóng lối về cỏ may
Ráng chiều buông sẫm khoé ngày
Rưng rưng khoả một vốc đầy hoàng hôn.


RU MƯA
Trời buồn trời trút cơn mưa
Người buồn thì biết đổ thừa đi đâu
Trái mùa còn trút mưa ngâu
Trái lòng em trút giọt sầu vào thơ...

À ơi!
hãy nín đi mưa
Nẻo người khó tạnh bên bờ trầm luân
Nghiệp duyên đã định cuộc trần
Thì thôi lận đận ru mình nín đi...


Thơ Thi Nhung

Người đàn bà không cô đơn


Người đàn bà không cô đơn

Trương Nhất Vương

HÃY SỐNG NHƯ MÌNH LÀ CỎ…
Ghé thăm chị trong một lần chở hai khách Hà Nội đi tham quan Buôn Đôn, được cỡi voi ké mới biết cuộc đời vẫn đang tiến lên chứ không tuột xuống “đời lên voi, xuống…”. Căn nhà gỗ ọp ẹp cố ngoi lên giữa bạt ngàn cây trái, mít tố nữ, xoài cát, Chôm chôm, sầu riêng Thái lan cơm vàng hạt lép…vv..v. Một mình chị một nhà, một vườn, một vi tính sách tay là tài sản giá trị nhất trên căn gác gỗ và cơ man sách báo biếu.
Bao năm vất vả với bảy sào rẫy, lúc đầu là cà phê, rồi do cà phê khủng hoảng lại điều kiện canh tác không thuận tiện, nên chị bỏ cả và trông một vườn cây ăn quả nhiều loại. Ngày ngày cày cuốc, chăm chăm, tưới tưới.
Nghiệp văn thơ có trong chị từ những mơ ước thủa thiếu thời, không ngờ trong lao động lại phát tiết, đâm chồi nảy lộc. Những nhát cuốc, mỗi vần thơ, những câu chuyện thấm đẫm mồ hôi sinh ra giữa những giờ giải lao, giữa những cọ quẹt trêu đùa của cỏ cây hoa lá, giữa tiếng côn trùng nỉ non, giữa tiếng ve ngân, tiếng quạ ác và lũ ong mật cần mẫn kéo nhau về đây xây tổ…  
 “Trăng Đêm” thơ đăng trên Tuyển tập Áo Trắng, “Nụ Hôn Muộn” truyện ngắn đăng trên Tuyển tập Thời Văn. Là những tác phẩm đầu tay xuất hiện vào năm 1993. Bắt đầu cho một chặng đường đi tìm mơ ước.
Chị kể chuyện về cảm giác những lần đầu tiên ấy “ tim như vỡ ra…con người mình như quả bóng bơm căng chực nổ bùng, muốn hét vang lên khắp muôn xa, muốn bay vút lên tận trời cao, muốn hoà tan cùng nắng, muốn thông thênh cùng gió…”. Nhưng cái cảm giác sung sướng của những ngày đầu ấy đúng như cô gái dậy thì luôn bị nén chặt không dám thổ lộ cùng ai, “cái lò xo ấy chỉ bật lên khi đã vào đêm trùm kín trong chăn”.
Hai người khách trẻ đi cùng được tôi thông báo và xin phép trước, run run theo chân lên thăm “gác trọ” cũng là góc làm việc của chị. Chị bảo tôi “hên” và có duyên mở hàng ( cười ). Sáu đầu sách sinh liên tục dưới bàn tay người phụ nữ học hết lớp chín này, được các nhà xuất bản… đóng gói gửi về theo xe khách. Tập mới nhất MIÊN MAN MIỀN TAO NGỘ, tản mạn – ký, lúc chị tất tưởi thuê xe ôm chở về tới nhà vẫn còn nguyên trong bao nóng hổi thì tôi lù lù xuất hiện. Chúng tôi đều được tặng sách, được thưởng thức các sản phẩm cây nhà lá vườn, được nghe chị kể chuyện…căn phòng đầy ắp tiếng cười.
Chị kể: Bước vào nghiệp văn một cách tự phát, không hề qua một trường lớp đào tạo nào. Trình độ học vấn lại dừng ở một nấc quá khiêm tốn ( cấp hai ),  nên ngoài việc tự mày mò , viết nhiều, đọc nhiều thành quen khả năng tư duy, tiếp xúc và biểu đạt thì cần lắm những sự chỉ bảo của những người đi trước. Tuy đây đó cũng nhận được đôi lời khích lệ, góp ý, nhưng chỉ đến lúc gặp “Anh” thì mới thực sự có niềm tin một cách vững vàng cho công việc và niềm đam mê của mình.
Tôi chen vào “tình yêu khiến một người bình thường trở thành nhà văn thế mới hoành tráng”. Chị cốc đầu tôi một cái mà mắng: “em chỉ giỏi tưởng tượng…” (cười), rồi chị bật mí người mà chị kính trọng xem là người thầy, một người anh lớn mà chị may mắn hữu duyên được gặp trong nghề viết đó là nhà văn Ma Văn Kháng. Chỉ gặp trực tiếp một vài lần nhưng qua trao đổi thư điện tử giếng mối thầy, trò, anh, em càng bền chặt. “Anh” luôn truyền đạt chỉ dạy cho những gì then chốt nhất của chuyện văn, chuyện đời…. “Anh” khuyên chị không nên tự ti và cũng không nên vội vàng… Người nhanh chân chưa hẳn là người thắng cuộc nhất lại trong cái việc tay không đào quặng này. Và chị nghe lời  với tâm thế tĩnh tại và cần mẫn, với những gì mình có thể làm bằng tất cả khả năng và lòng say mê . Chị lặng lẽ đi theo lối riêng  mình mà không hộn rộn, nghiêng ngó. Rồi chị đúc kết: Văn chương là chiếc cầu nối tình người. Viết văn như một cách trò chuyện với người và với cả chính mình.
Tôi quen chị trên blog http://damlan.vnweblogs.com với cái tít khá lãng mạn: mênh mông chiều vàng…thời gian quen biết chưa đầy 3 năm. Nhớ lần mời chị uống cà phê giữa ngã sáu Thành phố Buôn Ma Thuột; Tôi hồi hộp với cảm giác lần đầu tiên gặp; Cứ tưởng tượng chị sẽ to, cao nhưng trái ngược hoàn toàn, một người phụ nữ với đôi chân tật nguyền xuất hiện. Tôi hối hận vì đã chọn lầu 2 để rộng tầm quan sát; Lao đến đỡ khi chị với đôi tay khoẻ mạnh leo lên cầu thang. Chị xua tay, miệng cười tươi bảo để chị tự vận động…
Say sưa nghe chị, rồi tò mò theo chị về nhà ở xã Ea Nuôl cách Thành phố Buôn Ma Thuột 15 km đường vào huyện Buôn Đôn. Chị chạy được xe máy, chiếc cúp cối 81, chị bảo nó phù hợp với đôi chân của chị, vừa cà tàng, vừa thấp, vừa rẻ, vừa tiện khi cần thì hất nó ngã qua một bên để không bao giờ nó đè lên mình (cười). Chị chạy rất nhanh. Tôi chạy theo lo lắng, chị nói: chạy thoang thoáng một tý, có đà dễ lạng lách, ít bị ngã…(cười).
Ngay sau lần đầu tiên chứng kiến cuộc sống một lều, một vườn, đơn thân độc mã giữa vuờn cây trái ấy tôi về mất ngủ viết bài:

NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÔNG CÔ ĐƠN
                                                       ( kính tặng chị ĐL)
Người đàn bà giấu cô đơn trên căn gác hẹp
Như giấu báu vật mà ko phải ai cũng có được…
Những vết tích mùa xuân còn đọng lại trên hoa văn những tấm ván tường đen trũi màu thời gian.
Người đàn bà ko giấu mình bên những trang đời  
sách, truyện ngắn…như người tri kỷ.
Con mèo hoa vươn đôi tay vờn chiếc bình hoa như vờn nỗi đau…
Người đàn bà, mở ra những trang viết thấm đẫm tình người.  
Người đàn bà giấm cô đơn trong đôi mắt hay cười
Mái tóc xoã dài hình giọt lệ
Người đàn bà đã đứng lên từ “đôi chân tàn nhưng không phế ”
Đối diện với cuộc đời không tính kể thiệt hơn.
Người đàn bà ôm lấy cô đơn 
Như ôm người tình chung thuỷ
Tất cả những yêu thương có cội nguồn từ suy nghĩ
dành hết cho đời …
Trên môi người đàn bà luôn nở nụ cười…

Sau khi biết công việc của tôi là lái xe buýt, chị nhờ tôi bán dùm thơ của Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng bị bại liệt ở Quảng Ngãi mà chị tình cờ quen biết qua báo chí. Nhưng tôi không ngờ thơ của Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng rất hay, hợp với suy nghĩ của số đông người lao động nên bán chạy như tôm tươi.
Cuốn truyện SỰ NHẦM LẪN; Trái Tim Đàn Ông 2010 của chị, thơ Áo Trắng của Trương Đình Tuấn (Bình Phước) tôi mang theo xe buýt để đọc cũng được rất nhiều người tìm mua, nhưng chị chỉ gửi tặng. Các em học sinh Trường PTTH Huyện Krông A Na truyền tay nhau đọc sách của chị. Tôi hiểu thêm giới trẻ bây giờ không phải hư hỏng hết như báo chí vẫn hay nhận xét; Ngày nào trên khắp các mặt báo cũng là cướp, hiếp, giết người và xì căng đan của giới người mẫu mà không biết các huyện vùng sâu vùng xa các em chất phát, hiền lành và thèm sách báo như thế nào. Có em đọc rồi viết bình luận nhờ chú chuyển đến tay tác giả: xin giới thiệu trích đoạn thư của em TRẦN THỊ TUYÊN _học sinh 12 A1; hiện đang theo học đại học tại Tp Hồ Chí Minh gửi chị Đàm Lan mà tôi còn lưu lại được:
Sự nhầm lẫn của cô phải chăng là” sự hối hận ” ? hay đó là “sự biết ơn”…? Cháu cũng ko biết nữa !nhưng cháu tìm thấy ở trong văn thơ cô rất nhiều thứ, ấy là tình thương của cha mẹ dành cho con cái, cho dù đứa con ấy ko  được như mong muốn, đó là sự tủi hờn khi bản thân mình bị hất hủi, bị bỏ mặc trong cái thế giới cô quạnh của sự giày vò, đó là sai lầm trong cái suy nghĩ thơ dại, đó là sự tình cờ trong bao cái ngẫu nhiên trong cuộc đời này, đó là sự hối hận muộn màng, đó là niềm tin vào ngày mai, vào một nơi nào đó ở tương lai, hạnhphúc sẽ song hành với con người.
Cháu cảm thấy vừa quen thuộc, vừa gần gũi, có lẽ đây là lần đầu tiên cháu đặt bút viết lên những suy nghĩ của mình về một tác phẩm văn học của ai đó. Nhưng thật sự khi cầm trên tay cuốn sách này bỗng dưng cháu muốn viết thật nhiều, muốn gửi đến nhà văn một dòng suy nghĩ của thế hệ trẻ hôm nay về những gì mà cô đã trải qua.
Thế hệ 9x như cháu, có lẽ chưa bao giờ phảii trải qua những ngày tháng cuộc đời như cô, phải chăng vì thế cháu cảm nhận thấy, nhìn thấy cuộc đời này vẫn còn nhiều khoảng tối quá…!
Người đàn bà không cô đơn viết sách ấy tên thật là Đàm Thị Tuyết Lan, bút danh Đàm Lan. Sinh ngày 22 -5 -1966 trong một gia đình có năm anh chị em. Bố mẹ mất đã khá lâu.
Tác phẩm đã in : Hoàng Hôn Biển 1998, Mênh Mông Chiều Vàng 2005, Lối Nhỏ 2006, Sự Nhầm Lẫn 2008, Trái Tim Đàn Ông 2010, Miên Man Miền Tao Ngộ 2011.
Tất cả đều là văn xuôi.
Giải thưởng : Giải khuyến khích của Hội Liên Hiệp các Hội VHNT toàn quốc 2008
                   : Giấy Khen của Uỷ Ban Tỉnh DakLak 2009
                    : Giải C, của Hội văn học nghệ thuật Đăk Lăk trao cho tập MIÊN MAN MIỀN TAO NGỘ.
Để có được những tác phẩm như minh chứng không phải bất cứ người cầm bút nào mơ cũng có được; Chị nhìn nhận: Trong bản đồ văn học cũng có nhiều sông to, biển lớn, có kênh rạch, luồn lạch, có khe suối, mạch ngầm, và có cả ầm ào thác lũ. Chỉ xin làm một khe suối nhỏ nhoi, lặng lẽ tháng ngày len lỏi qua những dốc đồi, hốc núi, vân vu vắng vẻ, bất chừng có ai qua, dừng chân té một vốc nước rửa mặt. Cảm giác mát mẻ, dẽ chịu, thanh thoả cất bước rồi… Quên! Cứ như vậy chị lăn lê, bò toài viết trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn đủ bề “ những ngày tháng ấy là từ ánh sáng của chiếc đèn pin và trong tư thế nằm sấp, giờ nhớ lại vẫn còn cảm giác tức ngực và tê dại cả hai cánh tay”. Văn chị như con người của chị, vượt lên chính mình, vượt lên hoàn cảnh, vượt lên số phận, vượt qua tất cả những mặc cảm xã hội. Cuộc sống đầy những trải nghiệm, đầy chông gai, thử thách của một người phụ nữ tật nguyền sống giữa trung tâm thành phố hình như chưa đủ liều để thử sự gan góc, kiên cường với ý chí và quyết tâm của chị; Chị mua nhà, mua rẫy tại xã Ea Nuôl huyện Buôn Đôn sống đúng chất như một nông dân thực thụ. Chị bảo “ môi trường nông thôn không khí trong lành, thanh tịnh, kết hợp lao động chân tay con người tự nhiên khoẻ ra, ít cảm, sốt, nhức đầu, sổ mũi …”.
Về quan niệm sống tôi rất thích hai câu thơ của chị, nó nói lên tất cả… Hãy sống như mình là cỏ/ sau những bước dẫm của đời … lại lặng lẽ xanh hay Thả một chiếc lá trong mông mênh lòng gió/ chiếc lá mang theo lời nhắn gửi … vi vu, vi vu…
Về tác phẩm tôi đã đọc ba trong số sáu cuốn sách của chị; Sự Nhầm Lẫn 2008, Trái Tim Đàn Ông 2010, Miên Man Miền Tao Ngộ 2011. với ngôn ngữ cực kỳ giản dị, mộc mạc như miếng cơm, nước uống hàng ngày; Những chuyện người, chuyện đời, chuyện nhân tình thế thái, chuyện xã hội; Những tâm sự, ước mơ, hoài bão, khát vọng sống… đều được chuyển thể vào trong tác phẩm một cách chọn lọc, ngắn gọn, xúc tích, sâu sắc đầy tính nhân văn. Tôi không dám nói tất cả, nhưng với những người lao động, học sinh, sinh viên, từ những người rổ rá đi chợ, nhân viên xe buýt, hay cả vợ tôi… khi đã lật sách của chị đọc vài trang thì nhất định phải theo cho bằng hết; ai không tin xin hãy thử mà xem.
Về cuộc đời, chị vẫn sống đơn giản trong  căn nhà gỗ ọp ẹp, cố ngoi lên giữa bạt ngàn cây trái, mít tố nữ, xoài cát, Chôm chôm, sầu riêng Thái lan cơm vàng hạt lép…vv..v. Một mình chị một nhà, một vườn, một vi tính sách tay là tài sản giá trị nhất trên căn gác gỗ và cơ man sách báo biếu.… ./.
.
Nguồn: phongdiep.net