Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2013

Hoa cỏ vườn nhà vui xuân/ Hoa nhài

Pi Uy
thơ nguyennguyenbay

HOA NHÀI


Ướp trà em. Cài tóc em. Mà vẫn khinh em. Hoa nở đêm.
Nhưng em vẫn nở đêm. Cho ngon trà. Cho ngọt tóc. Em vẫn cứ là em. Hoa nhài..

 You chilled our tea. You perfumed our hair. But people still despise you. Flower of the night. Yet because you still blossomed at night. Bathing under the moonlight. Soaking drops of dew. Bringing taste to our tea. And sweetness to our hair. You remain who you are – Jasmine
(
Anh ngữ Nicholas James Steiner)


(99 khúc tặng Liên)

Sách Sử Học với Giáo dục/ 8/ Phùng Thành Chủng

SỬ HỌC VỚI GIÁO DỤC

NNB. Sách Sự Học với Giáo Dục của nhà văn Phùng Thành Chủng, gồm 45 tiểu mục, do tác giả gửi qua eMail, thật hay và bổ ích kiến thức. Cảm ơn và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


NHỮNG “HỢP TUYỂN THƠ” ĐẦU TIÊN Ở NƯỚC TA


1. Phan Phu Tiên với “Việt âm thi tập”
.


Phan phu Tiên (không rõ năm sinh, năm mất) tự Tín Thần, hiệu Mặc Hiên, người làng Đông Ngạc (tục gọi là làng Vẽ), huyện Từ Liêm, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Ông đỗ Thái học sinh khoa Bính Tý, niên hiệu Quang Thái thứ 9 (1396) đời Trần Thuận Tông (khoa thi cuối cùng của triều Trần) và trúng tuyển kỳ thi Minh kinh năm Kỷ Dậu, niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 (1429) đời Lê Thái Tổ (khoa thi đầu tiên của triều Lê). Làm quan đã từng trải qua các chức: An phủ sứ phủ Thiên trường (Nam Định), Quốc tử giám bác sĩ tri Quốc sử viện rồi An phủ sứ Hoan châu (Nghệ An). Là nhà sử học, tác giả của bộ: “Đại Việt sử ký tục biên”, Phan phu Tiên còn là soạn giả của bộ “Việt âm thi tập”, một  “Hợp tuyển thơ” đầu tiên ở nước ta. Sách hoàn thành năm 1433 và được khắc in năm 1459 (có sự bổ sung của Chu xa và lời phê điểm (hiệu đính) của Nguyễn Tử Tấn). Theo như bài tựa, “Việt âm thi tập” gồm 6 quyển và một quyển phụ lục, tập hợp hơn 700 bài thơ của hơn một trăm tác giả từ Trần, Hồ, đến Lê (theo “Lược truyện các tác gia Việt Nam”, bản của thư viện khoa học (in năm 1979, ký hiệu A.1925) chỉ có 624 bài của 119 tác giả).

2. Dương Đức Nhan với “Tinh tuyển thi tập”.


Dương Đức Nhan (không rõ năm sinh, năm mất) người làng Hà Dương, huyện Vĩnh Lại (nay là huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). Ông đỗ tiến sĩ năm Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận thứ 4 (1463) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến Hình bộ hữu thị lang, tước Dương xuyên hầu. Nối theo những bài không có trong “Việt âm thi tập”, Dương Đức Nhan soạn: “Tinh tuyển chư gia luật thi” (gọi tắt là “Tinh tuyển thi tập”) 5 quyển, gồm 472 bài thơ của 13 tác giả từ cuối Trần đến Lê (có lời phê điểm - hiệu đính) của Lương như Hộc).

(Theo “Lược truyện các tác gia Việt Nam”, bản chép tay ở thư viện Khoa học, ký hiệu A.574, chỉ còn 362 bài của 11 tác giả).

 
3. Hoàng Đức Lương với “Trích diễm thi tập”.

Hoàng Đức Lương (không rõ năm sinh, năm mất) quê làng Cửu Cao, huyện Văn Giang; sau di cư sang làng Ngọ Kiều, huyện Gia lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc ngoại thành Hà Nội). Ông Đỗ hoàng giáp khoa Mậu Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 9 (1478) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến Tả thị lang bộ Hộ. Đã từng được cử làm phó sứ sang sứ nhà Minh. Bổ khuyết cho “Việt âm thi tập” của Phan Phu Tiên và “Tinh tuyển thi tập”  của Dương Đức Nhan, Hoàng Đức Lương soạn bộ: “Trích diễm thi tập” (15 quyển), trong đó có các thi tập: “Đoán sách” của sư Pháp Loa, “Ngọc tiên” của sư Huyền Quang (2 tác giả triều Trần) và các tập: “Tiết trai” của Lê Thiếu Dĩnh, “Tiên Sơn” của Nguyễn Vĩnh Tích, “Chí hài tập” của Phùng Thạc, “Vân biều tập” của Doãn Hành, “Tống khê tập” của Vương Sư Bá, “Phục hiên tập” của Trần Khản,, “Tố cầm tập” của Vũ Quỳnh, “Cưu đài tập” của Nguyễn Húc (8 tác giả triều Lê).
(Trong “Kiến văn tiểu lục”, ở mục “Thiên chương”, Lê quý Đôn cho biết những tập sách kể trên đến thời ông đã không còn!)

4. Lê Quý Đôn với “Toàn Việt thi lục

Lê Quý Đôn (1726 – 1784, thuở nhỏ tên là Lê Danh Phương) tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, người làng Diên Hà, trấn Sơn Nam hạ (nay là làng Phú Hiếu, huyện Diên Hà, tỉnh Thái Bình). Ông đỗ bảng nhãn khoa Nhâm Thân, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 13 (1752) đời Lê Hiển Tông. Làm quan đã từng trải qua các chức: Toản tu Quốc sử quán, Hàn lâm viện thị giảng, Hàn lâm viện thừa chỉ kiêm Học sĩ Bí thư các, Đốc đồng (Kinh Bắc), Tham chính (Hải Dương), Thị thư kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám, Tán lý quân vụ, Thị phó Đô ngự sử, Công bộ hữu thị lang, rồi Bồi tụng (dưới tể tướng một bậc), tước Dĩnh thành hầu, Lại bộ tả thị lang, Tổng tài Quốc sử quán, Hiệp trấn tham tán quân cơ, Hành bộ phiên cơ mật sự vụ kiêm Chưởng tài phủ, Hành tham tụng, Hiệp trấn (Nghệ An). Năm Canh Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 21 (1760) đã từng được cử làm phó sứ sang sứ nhà Thanh. Khi mất được tặng Công bộ thượng thư, tước Dĩnh quận công. Là nhà văn hoá lớn thế kỷ 18, Lê Quý Đôn đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ bao gồm đủ mọi lĩnh vực: Triết, sử, thơ văn, biên khảo, chú giải, kinh điển, tổng loại, tạp lục,... trong đó có bộ: “Toàn Việt thi lục

“Hồi quốc sơ, Phan Phu Tiên chép những bài thơ của vua chúa, công khanh và sứ thần về đời nhà Trần, lại chép những bài ngự chế của Cao đế
(Lê Thái Tổ), Văn đế (Lê Thái Tông) cùng những bài ngâm vịnh của các nho thần về bản triều, thành quyển “Việt âm thi tập”; Dương Đức Nhan lại chép nối theo những bài không có trong “Việt âm thi tập” của Phan Phu Tiên làm “Tinh tuyển thi tập”; Hoàng Đức Lương lại chép nối theo những bài còn thiếu trong hai tập kể trên làm “Trích diễm thi tập”. Hợp cả ba tập thơ ấy mà xem, thì văn thơ nước Nam có thể tìm được đầy đủ. Nhưng vẫn còn có chỗ bỏ sót...”
Tập hợp các công trình trên và biên sắp lại, đồng thời bổ khuyết những tác giả, tác phẩm mà các công trình đó còn bỏ sót, và chép nối thêm những tác giả, tác phẩm mới xuất hiện về sau, Lê Quý Đôn soạn bộ “Toàn Việt thi lục”. Sách soạn xong năm Mậu Tý, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 29 (1768) đời Lê Hiển Tông, gồm 20 quyển, trong đó ngoài bài “Lệ ngôn” nói về nội dung và thể lệ làm sách, Lê Quý Đôn đã bổ sung thêm  897 bài thơ của 73 tác giả từ Lý, Trần đến Lê Tương Dực (Xin xem thêm bài: “Về tác quyền bộ Toàn việt thi lục”- PTC).
Như vậy, với   “Việt âm thi tập” của Phan Phu Tiên, “Tinh tuyển thi tập” của Dương Đức Nhan, “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương và “Toàn Việt thi lục” của Lê Quý Đôn (với tư cách là một tập đại thành), chúng ta đã có một “Tổng tập thơ Việt Nam 5 thế kỷ” gồm trên dưới 3000 bài thơ của trên 200 tác giả từ Lý, Trần, Hồ đến Lê sơ. Đây là những “Hợp tuyển thơ” đầu tiên, có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi đó chính là những viên gạch dựng nền xây móng – mà nếu không có nó, có thể nói rằng – chúng ta không thể có được ngôi đền thơ hiện đại nhưng cũng rất dân tộc hôm nay...

Sách Sử học với giáo dục/ Phùng Thành Chủng

Tác giả gửi bài



Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013

Hoa cỏ vườn nhà vui xuân /Chát với con gái

Hình ảnh: With Mom and Dad in Charleston, SC

Chát với con gái về nhà chồng
 Cho Nguyễn Lý Phương Ngọc

Chát với nhau thế này có nghiêm không, con gái?

Dạ, nghiêm
Con đang thấy trăng mẹ phủ đầy vai con
Cha ôm  trăng thì thầm lời gió
Trong đầu con giấy trắng tinh nở nụ
Chờ chép những lời cha

Vậy chúng ta cùng chát dưới hòa ca
Của trăng và gió
Yêu nhau chẳng biết thế nào là đủ nhỉ
Vái trời cho cha mãi là cha
Để hát dịu dàng cùng mẹ con vằng vặc

Cha ơi, trưa hôm qua con nghe mẹ hát
…Gả con chồng gần
Có bát canh cần nó cũng mang cho…
Con đã khóc

Đừng nhiều nước mắt thế, con yêu
Ngày mẹ theo cha đi làm vợ
Khát thèm lời ngoại hát
Mẹ thức suốt đêm ngửa mặt nhìn trời
Nghe từng thánh thót mưa rơi

Cha đã làm gì lúc ấy?

Cha đã ôm mẹ đầy một ngực
Hát rằng,
Dẫu sông tình gặp bão gặp giông
Dẫu sông tình qua ghềnh qua thác
Đôi ta mãi mãi vợ chồng…

Sao cha không hóa phép cho con được lấy chồng gần?

Trên trời có ông Tơ bà Nguyệt
Cha chỉ là cha trần tục của con thôi
Hơn một lần tôi dậy con tôi
Muốn biết vàng thau tình hãy tìm trong mắt ấy
Chỉ có tơ vàng không có tơ thau
Tơ vàng quấn cổ tay nhau
Mà thành chồng vợ

Cha biết không, Nick (*) nắm tay con thật nhẹ
Ai đã buộc chúng con trong sợi mơ hồ…

Trời đã cho sợi mơ hồ ấy
( Gái trai nào cũng được trời cho)
Trong mỗi sợi mơ hồ đều có một hạt thơ
Trong hạt thơ có duyên nhân thử thách
Gieo thế nào cho duyên nở thành cây
Ngả cây đóng một con thuyền
Thong thong sông đời thuyền yêu

Cha có đứng trên bờ cùng hát với thuyền con?

Không chỉ hát cùng con
Cha cho tiếng hát đi theo
Trăng đầu hôm là ngọn đèn dầu
Gió giông làm lửa cháy…

Cha ơi cha, sao không cho con giấc mơ cá nhẩy
Để con vượt vũ môn
Cha lại cho con giấc mơ cá vàng?

Con nói lạ chưa
Có mẹ cha nào chẳng muốn con hạnh phúc
Con chẳng đã có hơn hai mươi năm cơ cực
Cùng cha mẹ vượt vũ môn?
Đừng tưởng ta cho giấc mơ cá vàng
Là tình tung tăng hưởng sướng
Dưỡng nuôi tình là vũ môn con…

Con xa nhà lúc cha mẹ hoàng hôn
Có cách nào cha giải mã nỗi buồn?

Cha một đời tu thân cầu sống đời mình thích
Tự tin tìm hạnh phúc ở bàn tay
Tới đích đó là người đắc đạo
Nay nhìn con yêu người mình yêu
Nay tin con có bàn tay làm ra hạnh phúc
Mã buồn cha giải văn vui
Con đừng ngủ nướng ban mai
Để cha phải thức gió sang gọi nhé
Con đừng đố kỵ nhỏ nhen
Để nụ cười không là hoa hồng nhé
Con cứ là con như con đã là con
Đừng tưởng lấy chồng là đã lớn khôn
Dù ở cách xa hư cha vẫn đánh đòn

Xin cha cứ đánh thật đau
Để con biết cha còn mạnh khỏe

Mạnh khỏe vì cháu con thì cha phải cố
Cố để báo công với đấng sinh thành
Đã nuôi dậy cháu con thành người tử tế
Nghĩa đời vay trả
Dù chỉ một đồng tình cũng phải nhớ tri ânNhớ con cha nấu canh cần
 Chiều đông mời mẹ con cha nhé?

Đời nào mẹ con bằng lòng ngược thế
Mẹ sẽ nấu canh cần cho nguôi nhớ cả hai
  Bát canh cần đời tôi
Gần năm chục năm rồi vẫn ngọt
Bát canh cần của đời con
Năm chục năm sau còn ngon hơn nữa nhé
Thôi nào canh cầnHãy rạng rỡ trước vu qui…

(*)Tên con rể tác giả
Sài Gòn, đêm 30.04.2011
(99 khúc tăng Liên)

Thơ NGUYỄN MINH KHIÊM



Thơ
NGUYỄN MINH KHIÊM


Lần tràng hạt


Lần tràng hạt lúc giao thừa
Bao nhiêu hạt nắng hạt mưa hiện về
Hạt thì tỉnh, hạt thì mê
Hạt gối núi lửa, hạt kê sóng lừng
Hạt là muối, hạt là gừng
Hạt là chỉ thắm, hạt thừng chăn trâu
Hạt chìm nghỉm dưới bể sâu
Hạt ngang dọc vút giữa bầu trời xanh
Hạt làm cám cũng không thành
Hạt thiên hạ đứng nghiêng mình nam mô
Hạt trong cám dỗ hư vô
Hạt ngoài lạc lối tiền đồ phù du
Mùa xuân lần tới mùa thu
Lần qua giá buốt sương mù mùa đông
Lần từ ngọn gió hư không
Lần sang mống cụt cầu vồng đỏ đen
Dưới hàm sư tử ngồi thiền
Bình yên ngọn cỏ giữa miền bão lay
Vỡ ba trăm sáu lăm ngày
Nén hương trước mẹ một giây xin lành!

11.2.2013

Thơ CHU VĂN KENG




Thơ CHU VĂN KENG

THƠ VÀ ĐỜI
Đem câu thơ thả lưng trời
Làm mòn mưa nắng gạn đời đục trong
Bài thơ gửi gắm tiếng lòng
Dẫu đời xô lệch méo tròn , cũng qua

NGẮM TRĂNG
Đã ai ghen với Cuội chưa?
Cùng phường tri kỷ Cây đa với mày
Cả Con trâu nữa mỗi ngày
Được làm “khoảng tối“…Ghen hay không nào?
Ngắm trăng lòng lại chiêm bao
Ngẩn ngơ ao ước được sao như là…

Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013

Vũ Quần Phương / Bản sắc thiền Việt Nam...

Bản sắc Thiền Việt Nam trong Thơ Thiền Lý Trần
Vũ Quần Phương

Phật hay Bụt là cách đọc theo âm của chữ Budha. Budh có nghĩa là tỉnh thức, là một hoạt động của trí tuệ. Đạo Phật hay Đạo Bụt là con đường nhận thức thực tại, nhận thức bản thân để tìm một nghệ thuật sống cho hạnh phúc.
Vị giáo chủ khai sáng đạo Phật  là vị hoàng tử Ấn Độ mang tên Siddattha (Tất Đạt Đa), mang họ Gotama (Cổ Đàm) thuộc tộc Sakya (Thích Ca). Sinh năm 623 trước công nguyên, nhập Niết bàn vào năm 543 TCN. Năm Phật nhập Niết bàn được coi như năm đầu của Phật lịch.
Đạo Phật nhập Việt Nam theo hai nhánh Đại thừa, Tiểu thừa, qua đường Trung Quốc, Ấn Độ. Nhưng khi tồn tại ở Việt Nam, Đạo Phật đã có những biến đổi, hình thành bản sắc riêng của Đạo Phật Việt Nam. Dõi theo lịch sử, khi nước ta ra khỏi thời Bắc thuộc, lập quốc gia tự chủ thì Đạo Phật cũng ý thức tự cải cách để thành một quốc giáo mang tâm linh Việt. Thiền phái Thảo Đường thời Lý Thánh Tông và đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm thời Trần Nhân Tông đã đưa những nhân tố mới về giáo lý, về nghi thức tu hành, thâm viễn hơn  mà cũng gần đời hơn. Những quan niệm Phật pháp cách tân đó đã được thể hiện sâu sắc trong thơ thời Lý, thời Trần mà ngày nay chúng ta gọi chung là thơ Thiền đời  Lý đời Trần.
Thơ hai triều này được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là giai đoạn huy hoàng nhất của thơ Việt có lẽ cũng là do phẩm chất Thiền ẩn chứa trong nội dung. Chủ đề Thiền vốn khái quát, triết lý về những vấn đề thiết cốt của con người như bàn về sống chết, có không, về hạnh phúc với khổ đau. Thơ Thiền Lý Trần là lời khuyến cáo thuyết phục về một nghệ thuật sống chủ động, vượt lên mọi tình thế để tìm ra hạnh phúc ngay trong đời thiết thực.

Hoa cỏ vườn nhà vui xuân

Tranh hoa Phương Ngọc
thơ nguyễn nguyên bảy

Vào chùa
Dẫu không dài đời cũng trăm năm
Sao chẳng trăm năm nương cửa Phật
Bề đời khổ sao bề đời vẫn chật
Nào mấy người vào bể Như Lai

Trùng tu chùa
Chùa linh thiêng nhờ vòm cong mái cổ
Ngói âm dương gợi gợi những xa xôi
Giận ai chạm lại con nghe cũ
Mái ngói vô duyên đỏ lợi cười

(99 khúc tặng Liên)

Thứ Tư, 20 tháng 2, 2013

Hoa cỏ vườn nhà dâng ngày Mở Cửa Trời

Tranh hoa Phương Ngọc

thơ nguyễn nguyên bảy

TỤNG NGÀY MỞ CỬA TRỜI


Trí dũng tát cạn được bể lửa
Dám dâng thân cứu nạn triệu sinh linh
Sao không tự cứu được mình
Trước sông Mê, bến Lú?

Gieo nhân của Phật cho
Bằng máu của đồng loại
Lẽ nào không phải hái
Quả độc trên cây đời..

Hoa đã tàn và hoa sắp nở
Trong bờ giác hoa đốm hư không
Khi chữ tâm còn làm ta biết sợ
Bể đời bớt mênh mông..

Gió ở quanh ta nhưng gió vô hình
Không nhìn thấy mà thịt da cảm được
Phước cho đời
Phật ở trong tâm nên Phật vô lượng Phật
Kẻ ác hồi tâm và người tốt tốt hơn

Tụng Ngày Mở cửa trời,Mồng 9 Tết

NNB: Bài Tụng Ngày Mở Cửa Trời, được nhà thơ Hoàng Xuân Họa tụng tiếp,trân trọng giới thiệu dưới đây để thơ ngân lời Tụng vang xa..

thơ hoàng xuân họa

GÓP VÀI LỜI TỤNG


Cầu Trời, Phật mở cửa ra
Cho tôi hái chiếc lá đa làm thuyền
Tôi bơi trong lẽ tự nhiên
Hồn tôi vượt biển tới miền trăng sao
Tận cùng mây nước dạt dào
Lòng sông lòng bể ngọt ngào tự do
Không còn phải lụy bến đò
Khỏi đời cắm cúi thân cò mép sông

Cầu mong... tôi mãi cầu mong
Tay nâng nhành liễu vẽ cong bầu trời
Mặt đất thăm thẳm tháng mười
Cánh đồng gối vụ tốt tươi cánh đồng
Không còn cảnh vợ dẫn chồng
Bỏ quê ra tỉnh gánh gồng làm thuê...

Ở đâu sao Phật chẳng hề...???

15h11' ngày 09 Tết (18 -02-2013)

Tin sách/ Thơ Bạn Thơ 2 và Văn Bạn Văn 1


TIN SÁCH
+ Chúng tôi vẫn đang có mặt tại Hà Nội, bạn văn thơ nào chưa nhận được sách VBV 1 và TBT 2 vui lòng liên hệ diện thoại 0989722051 để chúng tôi phục vụ.
+ Sách gửi các bạn Thanh Quế (Đà Nẵng) và Nguyễn Tấn On (Đà Lạt) đã gửi qua đường BĐ
+ Do tuổi nhiều, ngựa nhọc, chúng tôi đã không thể đến Hải Phòng như định, xin lỗi và đành hẹn tay bắt mặt mừng khi có dịp. Sách TBT và VBV đã gửi về Hải Phòng theo hãng xe dò Hoàng Long. Các bạn Thi Hoàng/ Bùi Ngọc Tấn/ Đào Trọng Khánh/ Lê Đại Chức/ Tô Ngọc Thạch/ Mai văn Phấn/ Đào Mạnh Long/ và.. xin vui lòng liên lạc nhà văn Tô Ngọc Thạch ( số 2/ ngõ 18a Lạch Tray, Ngô Quyền, Hải Phòng) nhận sách.
+ Các bạn thơ, văn ở các địa phương vùng miền khác, xin vui lòng cho chúng tôi địa chĩ chính xác để chùng tôi và bưu điện được hân hạnh phục vụ tận nhà.

Nguyễn Nguyên Bảy


Thứ Ba, 19 tháng 2, 2013

Hoa cỏ vườn nhà vui xuân


Tranh hoa Phương Ngọc
thơ nguyennguyenbay


Bốn Mùa


Nếu em là hạt mưa Xuân

Anh là chồi biếc uống chầm chậm em

Nếu em ngọn gió Hè lên
Anh xin là cánh diều êm lưng trời

Nếu em trăng Thu chơi vơi
Anh nằm trên cỏ hát cười cùng em

Nếu em đơn chiếc mùa Đông
Anh là nắng ấm ửng hồng má em

Dù em chỉ muốn là em
Nhưng anh vẫn cứ là anh bốn mùa.

(99 khúc tăng Liên)

Thơ NGUYỄN ĐỊCH LONG



Thơ NGUYỄN ĐỊCH LONG

ĐÊM TỪ QUY TAM ĐẢO

Qua rồi lối ấy mưa xuân
Phượng mùa gieo lửa nẻo gần nẻo xa
Sườn thông lăn lóc tiếng gà
Bóng chim nhặt nắng la đà cuối thung
Mắt ai con sóng say lòng
Tim ai thức động một vòng cỏ xanh
Người về nặng nỗi Kinh Thành
Để ta Tam Đảo chòng chành gió mây
Giấc mơ nào ấm vòng tay
Ve kêu ngọn thác hao gầy tháng năm
Đá mòn nhớ bước tri âm
Từ quy nghẹn giọng gọi thầm vào đêm.

CÓ MỘT KHOẢNG TRỜI MÂY BAY

Ngược xuôi bồi lở
Bàng già lặng lẽ tự vẽ bóng mình
Rong rêu nước mắt
Đắng đót ký ức lữ hành
Tơi bời cơn khát xanh
Hoang vu chát đá
Mùa rơi vàng gió
Lau trắng
Bạc màu lối xưa
Kẻ sĩ lần hồi
ảo ảnh bùa mê
Giấc mơ vụn vỡ
Xuân chưa đến
Cháy lòng chờ đợi
Vọng đấng Tinh Khôi
Đấng Tinh Khôi ra đi không trở lại
Bỏ mặc phía sau con đường
Gập ghềnh
Mưa giăng
Nắng tãi

Một khoảng trời mây bay…

SA PA MỘT LẦN

Anh đưa em đến Sa Pa
Ngổn ngang núi dựng xập xà nước mây
Liêu xiêu dốc lả cồn lay
Đôi vai trần thế găm dày gió sương
Triền đào giăng nối tơ vương
Lỡ chân lạc bước nẻo đường mù xa
Một lần thôi với Sa Pa
Biết là khát vội mơ qua mấy cùng
Lời ai thăm thẳm lá rừng
Rồi mai mặn muối cay gừng còn không?

XUÂN VỀ CÂY GẠO XÙ SAO KHÔNG TRỔ BÔNG

Mỗi mùa Chùa Hương vào hội
Bên đường xuân gạo ra hoa
Mỗi mùa lúa xanh con gái
Gạo giăng bông trắng la đà

Xuân này qua miền đất ấy
Đâu còn thấy gạo phơi bông
Bơ vơ bờ hoang mưa rắc
Gạo khô đen thẫm mặt đồng

Nghìn năm gạo xù đứng đó
Chở nghìn mùa xuân trở về
Nghìn năm gom mình ươm lửa
Cháy nghìn năm đỏ hồn quê

Giờ qua có gì trống vắng
Dấu xưa lặng lẽ đi rồi
Bỏ lại khoảng trời đầy nắng
Đường chiều hun hút sương rơi.

ĐỢI

Bóng ai nghiêng mòn bến đợi
Chờ con đò ai sang sông
Đò ai phương trời vời vợi
Mình ai vun lửa đốt lòng.

Thơ Nguyễn Địch Long/ Nguyễn Khôi dọc chọn
nnb vi tính giới thiệu

Về sách Văn Bạn Văn 1



MỘT VÀI CẢM NHẬN KHI ĐỌC SÁCH VĂN BẠN VĂN 1
(Chủ biên: Nguyễn Nguyên Bảy/ Nhà xuất bản Văn Học)
Hòa Phú Yên


Trong bầu không khí nền văn học nước nhà hiện nay có phần u ám, nhiều xô bồ, nhiễu loạn; người ta đang tự ca tụng những điều viển vong, hư ảo, thậm chí có người lại thờ ơ và quay lưng lại với văn chương; Văn Bạn Văn 1 ra đời trong bối cảnh ấy là một sự kiện thực sự có ý nghĩa, là điều vô cùng đáng quý và đáng trân trọng.

Văn Bạn Văn 1 là tập sách tập hợp 38 bài, bao gồm những bài nhận định, đánh giá, những bài ký, đò đưa, chân dung, truyện ngắn của 34 tác giả đến từ mọi miền của đất nước. Và 1 bài viết hết sức có ý nghĩa “Cửu tụng bạn văn Trần Hoài Dương” thay cho lời mở đầu của Chủ biên Nguyễn Nguyên Bảy. Bài Cửu tụng nói lên được nhiều điều về đức tính, phẩm hạnh, tài năng của Trần Hoài Dương. Nói rộng ra đó là những phẩm chất mà người viết chân chính cần phải có.  Đừng vì lợi ích cá nhân, đừng vì con đường công danh, vị nể, đừng vì những suy nghĩ viễn vong mà làm những điều không đáng…

Sự góp mặt của những tác giả trên với những tác phẩm trong tập sách, ở nhiều thể loại nó đã làm nên sự đa dạng, phong phú của tập sách.

Bên cạnh những nhận định, những bài đò đưa về thơ, về một số tác giả, tác phẩm đã từng ghi dấu ấn trong lòng bạn đọc một thời còn có những bài ký sự, những truyện ngắn hết sức độc đáo, mang tính thời sự và có giá trị nhân văn. Đánh thức phần lương tri, trách nhiệm của con người trong cuộc sống vốn đa diện, đa chiều của đời sống hiện đại.

Sách Văn Bạn Văn (Tập 1) dày 300 trang, bìa cứng, khổ 20 x 20, Nhà xuất bản Văn học ấn hành tháng 1/2013, tập hợp gồm 34 tác giả với 38 tác phẩm. Tác giả góp mặt ít nhất 1 bài, nhiều nhất là 2 bài. Với cách bài trí từ bìa sách đến nội dung từng phần trong sách và nhất là những tác phẩm được chọn, theo cá nhân tôi nhận thấy nó rất bài bản, ấn tượng và chất lượng.  Đặc biệt là cách phân chia và gọi tên từng phần trong sách cũng rất “lạ”. Cách phân chia ấy chứng tỏ chủ biên Nguyễn Nguyên Bảy là một người rất am tường và chuyên nghiệp về văn chương chữ nghĩa. Sự phân chia và gọi tên như thế cho thấy ông là người rất cẩn trọng tỉ mỉ và công phu trong việc đọc chọn, sắp xếp và biên tập. Tôi thích nhất cách mà Nguyễn Nguyên Bảy gọi những bài bình bằng một cái tên khác cách gọi thông thường đó là “Đò đưa”, cách gọi này vừa quen, vừa lạ, vừa giản dị khiêm nhường nhưng nó cũng hàm chứa ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Phải chăng, cuộc đời cầm bút với những trải nghiệm thực tế đã giúp ông đưa ra những cách gọi mới, sát đúng với thực tế như vậy?.

Sách  Văn Bạn Văn (Tập 1) được chia làm 2 phần:

Phần 1: Văn ngắn (Luận, Sự, Ký, Đò đưa, Chân dung…)

Với sự góp mặt của Hoàng Thụy Anh, Phạm Đình Ân, Trần Văn Cung, Văn Giá, Trần Vân Hạc, Nguyễn Văn Hòa, Hoàng Xuân Họa, Nguyên Khôi, Vũ Bình Lục, Nguyễn Khắc Phục, Lê Xuân Quang, Nguyễn Thái Sơn, Hoàng Trung Thông, Hoàng Vũ Thuật, Trần Huy Thuận, Nguyễn Anh Tuấn, Triệu Xuân.

Trong phần 1 này, người đọc sẽ được thưởng thức nhiều bài viết rất ấn tượng và sâu sắc. Điều chắc chắn là sẽ gợi lên cho người đọc bao điều thú vị. Các bài viết mổ xẻ, phân tích, bình giá … trên nhiều phương diện và góc độ khác nhau. Và ở đó, chúng ta sẽ biết thêm được nhiều điều, nhiều kiến thức bổ ích, nhiều tư liệu quý … Một Nguyễn Khoa Điềm với những suy tư, trăn trở, những chiêm nghiệm cuộc đời trong “Cõi lặng” khi trở về- sau cuộc giã từ chính trường, sống cuộc đời tự do, khẳng định bản lĩnh và nhân cách của một tâm hồn thi sĩ đích thực (“Nguyễn Khoa Điềm và chuyện ngược dòng về Cõi lặng”- Hoàng Thụy Anh). Một Văn Cao là Nhạc sĩ- Thi sĩ tài hoa với những thăng trầm và bao biến cố đẩy đưa của cuộc đời (“Văn Cao: Uống rượu say rồi hát Quốc ca”- Lê Xuân Quang). Bài văn luận “Cái tai và văn hóa nghe” của Trần Huy Thuận” cho ta nhiều bài học về lẽ sống, về văn hóa ứng xử, giao tiếp hằng ngày …

Hà Nội mảnh đất hùng thiêng, là trái tim yêu của Tổ quốc, nơi những người con ở chính đất này đi xa ai cũng nhớ về nó với một nỗi nhớ da diết, khôn nguôi; nơi mà những người phương xa khi đến cũng đều có sức quyến rũ họ một cách kỳ lạ, với những người chưa từng đến Hà Nội thì ai cũng khao khát một lần được đặt chân đến mảnh đất  này. Hà Nội có điều gì đặc biệt, Hà Nội có những gì mà có sức cuốn hút kỳ diệu và lạ lùng như thế? Bạn đọc sẽ được thưởng thức qua một bài Tùy bút điện ảnh viết khá đặc sắc với sự hiểu biết uyên thâm của một người từng sống và gắn bó với Hà Nội. Đó là bài “Hà Nội bốn mùa” của Nguyễn Anh Tuấn. Mở đầu bài tùy bút, Nguyễn Anh Tuấn đã có cách giới thiệu ấn tượng: “Đối với rất nhiều người Việt nam ở khắp đất nước và ở khắp các phương trời xa xôi, Hà Nội là nỗi niềm đau đáu nhớ thương … Và Hà Nội cũng trở nên gần gũi thân quen một cách lạ lùng đối với nhiều thế hệ người Việt Nam cũng như đối với không ít vị khách nước ngoài… điều đó có thể lý giải bằng nhiều nguyên cớ- mà nguyên cớ trực tiếp nhất, và cũng sâu xa nhất, chính bởi Hà Nội có bốn mùa thật rõ rệt và đặc sắc, mà người ta có thể cảm nhận được qua da thịt từng sự thay đổi nhỏ bé của hoa lá, mặt sông gương gương hồ, con đường lối ngõ, những gương mặt người…

Đặc biệt, trong phần giới thiệu chân dung, độc giả sẽ được biết cụ thể hơn, rõ hơn về một hồn thơ tài hoa Lý Phương Liên, một tên tuổi từng gây xôn xao dư luận trên thi đàn những năm 70 của thế kỉ trước. Lý Phương Liên xuất hiện như “một ngôi sao băng” rồi vụt tắt, mãi đến năm 2011 công chúng yêu thơ mới biết có một Lý Phương Liên thật, đang hiện hữu trên cuộc đời này. Bạn đọc sẽ được tìm hiểu kỹ hơn về cuộc đời và thơ của bà qua 7 bài viết của các tác giả: Hoàng Trung Thông, Phạm Đình Ân, Trần Vân Hạc, Hoàng Xuân Họa, Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Anh Tuấn, Triệu Xuân.

Phần 2: Văn truyện

Với sự góp mặt của 19 tác giả: Tạ Duy Anh, Ngọc Bái, Lê Thế Biên, Văn Chinh, Phùng Thành Chủng, Lê Bá Duy, Nguyễn Hiếu, Hoàng Xuân Họa, Nguyễn Minh Khiêm, Văn Thành Lê, Lại Văn Long, Phùng Gia Lộc, Trần Nhương, Lê Xuân Quang, Bùi Ngọc Tấn, Võ Diệu Thanh, Nhật Tuấn, Triệu Xuân, Phùng Hải Yến.

Trong phần văn truyện, bạn đọc tiếp tục được thưởng thức những tác phẩm của những tác giả đã khá thành danh và khẳng định chỗ đứng trên văn đàn. Những tác phẩm truyện của các tác giả này họ khai thác ở nhiều đề tài, chủ đề khác nhau nhưng chung quy lại vẫn là đề cập đến con người, sự sống và những mối quan hệ xã hội trong đời sống hiện nay. Đọc những tác phẩm ở phần văn truyện chắc hẳn sẽ gợi lên cho người đọc nhiều suy ngẫm về vấn đề đạo và đời trong đời sống con người hiện đại hôm nay.

34 tác giả với  38 bài văn góp mặt ở sách Văn Bạn Văn- Tập 1 thực sự là những tác phẩm đáng để  đọc.

Có lẽ sự thành công của Văn Bạn Văn – Tập 1 nằm ngoài sự mong đợi của của những người thực hiện tập sách. Rất tiếc vì dung lượng Tập sách có hạn nên đành gác lại một số tác giả và tác phẩm khác. Hy vọng rằng những tác phẩm có giá trị chưa được chọn ở tập này sẽ được chọn in ở các tập tiếp theo.

Tôi tin rằng trong rừng sách bạt ngàn như hiện nay thì sách Văn Bạn Văn - Tập 1 sẽ là tập sách mà những người yêu thích văn chương và các em học sinh, sinh viên đọc sẽ thích.


Nguyễn Văn Hòa,
Trường phổ thông cấp 2-3 Xuân Phước, Đồng Xuân, Phú Yên