Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013

THƠ AM CÁC MINH

THƠ AM CÁC MINH

SÓNG TRONG ĐÁ

Bến chiều biển động mưa ngâu
Chông chênh bãi đá chôn sâu mặn mòi
Sóng òa bọt vỡ lằn môi
- Lỡ em hóa đá anh thôi ...
...đừng về

- Kìa em, biển động não nề
Mây dông sấm chớp lê thê buồm hồng
Bóng thuyền nghiêng ngả long đong
Bóng đảo chìm nổi ròng ròng xót xa
Sóng quằn quại thức bao la
Sóng xô mòn mỏi thiết tha gọi bờ
Bên trời vọng tiếng ầu ơ
Rưng rưng lõa bóng ngọn cờ trong veo...
Tay bầm bẻ giọt mưa queo
Cam thân đá cuội tẻo teo rã rời?
Âm u khuyết lấp mặt trời
Nhìn nhau không rõ, thẹn lời lứa đôi
Mặc sao sóng khóc em ơi
Căm phẫn bời bời đá buốt tê xương...
Sóng cuốn tan đá du dương
Đá thánh sóng cuộn kết hường mênh mông
Ạt ào cuốn lấp bể Đông
Một mai sừng sững dựng vòng đảo xa
Sóng bao bọc biển quê nhà
Xây trong hồn đá dựng tòa thiêng liêng
Dẫu cho trời đất ngả nghiêng
Đá mòn biển cạn, riêng riêng cõi bờ

Lời thề nguyên thủy hoang sơ
Anh đi về phía giấc mơ Mặt trời
Lỡ em hóa đá em ơi...
Hồn anh hóa sóng cuốn trôi theo cùng...

NHUỘM KHÚC

Nhuộm hàng mi cước trong veo
Để đôi mắt lạnh xanh leo lẻo hồn
Nhuộm non vầng trán bóng tròn
Để khoe tuổi tác hãy còn đôi mươi
Nhuộm răng trắng xóa miệng cười
Tươi trong gặp gỡ kẻo người xa xôi
Nhuộm tình hoang hoét đôi môi
Thoáng trong bất tận bồi hồi khát khao...

Nhuộm đôi vai sóng bụi trào
Công kênh gánh sáng đổ vào hoang hoai
Nhuộm bàn tay rất sạn chai

Chỉ vân định mệnh tuột dài hư vô
Nhuộm quần bạc phếch ống sô
Đôi chân cứng cáp lô xô đường trần
Nhuộm vằn rắn rỏi chỉ gân
Lên trong dáng vóc phong trần hiên ngang
Nhuộm giọng nói rất trầm vang
Nhuộm cười sang sảng lan tràn mênh mông...

Bạt chiều bóng đổ về Đông
Ngó núi, núi đỏ
Ngó sông, sông hồng
Nhuộm trong chí lớn phập phồng
Bóng buồm thấp thoáng loang dòng nước trôi
Nhuộm da diết tiếng à ơi..
Nhuộm đất, đất mặn
Nhuộm vôi, vôi nồng...
Tím lên bóng đá không chồng
Gặp em, nhỏ dại một vòng hoang vu
Trụi trần mắt biếc mùa thu
Trước em nghiêng ngả phù du kiếp người...

QUỲNH HƯƠNG

Như người đẹp tắm trong đêm
Ngọc ngà e ấp bên thềm khói nhang
Mõ khuya trơn tuột
Rỡ ràng…
Trinh nguyên lặn ngụp trên chàm sương hoang

Vừa chạm khẽ
ánh tơ vang
Trăng rung rinh nõn
nhụy nhàng diễm hương

Không gian phấn
loãng du dương
Trôi qua khe nhạc bất thường xôn xao

Trộm nhìn em giữa hư hao
Rình em lõa thể giữa chao đảo hình

Sắc hương tự tước đoạt mình
Đẩy anh ngã giữa tự tình miên man

Khóc bình minh rực rỡ
tràn
lên em phủ trắng bạt ngàn héo hon

Chắp tay nâng búp rũ mòn…

TÌNH KHUYẾT

Khuyết rồi giữa một tròn tay
Dạm hoa, hoa rũ
Tựa cây, cây rầu
Vắt lên trán, ngỡ bạc đầu
Đếm từng khuya khoắt ngỡ sầu thâu lâu...

Khuyết rồi giữa chiếc tròn âu
yếm lá dâu héo
úa châu gỗ vằn
vèo nhẫn cỏ
rối thư văn
vo nét mực tím
tía rằn tim reo...

Vệt mờ ngọt nhạt mốc meo
Còn leo lét giữa ngoằn nghoèo mắt vôi
Ngó trăng, trăng khuyết khuyết trôi...
Ngó mây, mây dặm dặm...
vời...
ngó tôi

Khuyết rồi cả những tròn môi
Xưa em có rỡ...?
Xưa tôi có ràng...?
Ai làm cho lạnh răng vàng...?
Lẳng lơ bầu rượu, quềnh quàng túi thơ...

Cạn rồi khuyết cả vu vơ...
Men tình men gạo vật vờ chiêm bao...
Thức mơ lạch cạch lào cào...
Bóng đâu đành đạch dãy vào hoang hoai...

ĐOM ĐÓM

Ấu em lay lắc cành non
Hoe mi nhấp nhánh lon ton dậu hòe
Xoe tay ấp ánh lập lòe
Nháy âm sắc sánh nhập nhòe nhá nhem
Thả vào quanh quất sương đêm
Thả vào thưa thớt thèm lèm cỏ thia
Rê từng hoang hoét hanh hoe
Xê xua rậm rịt rò rè rong rêu
Bập bùng ngõ hẻm vòng veo
Ngong ngoe máy mắt sẽ vèo sao sa...
Chợt òa lốm đốm oang oa...
Ngòng ngoèo mơ vệt loang loa ...giữa trời.

Thơ Am Các Minh/ Tác giả gửi bài.

THƠ LÀ GÌ VÀ THƠ CẦN CHO AI ?

THƠ LÀ GÌ VÀ THƠ CẦN CHO AI ?


“ Làm sao để đỡ sợ thơ/dễ thôi/ hãy đứng hàng giờ lặng im..”
 ( Làm sao để đỡ sợ - Nguyễn Thế Hoàng Linh)

Dương Thắng

Baudelaire đã nói câu bất hủ sau :“ Một người tử tế có thể có thể bỏ qua việc ăn uống trong hai ngày, nhưng không thể không đọc thơ trong hai ngày”. Thế nhưng giờ đây thời kỳ vàng son rực rỡ của thơ ca dường như đã là chuyện của quá khứ, các nhà thơ bị coi như những kẻ lạc lõng với thời cuộc, nhiều người nghĩ rằng thơ ca là một loại “sản phẩm bí hiểm”, phải có một kiến thức hay một năng khiếu đặc biệt mới có khả năng viết ra hay thưởng thức nó... Câu hỏi như một vấn nạn muôn thủa : Thơ là gì và Thơ cần cho ai ?Có lẽ chìa khóa duy nhất để hiểu được và yêu mến được thơ ca đó chính là bản thân thơ ca. Trong sâu thẳm, mỗi chúng ta đều mang nặng một hồn thơ: trước một phong cảnh hay một vẻ đẹp nào đó, chúng ta đều cảm thấy dâng lên một cảm giác ngạc nhiên / thán phục, một cảm xúc lâng lâng “nên thơ”
“ Giật mình từ tận con tim/ Bắt gập ban mai thực thế/Thực thế một cô gái nhỏ/ phẳng phiu áo quần cắp cặp/ bước bước trong veo thẳng tắp.
..” (Cô Gái – Ban Mai. Hoàng Cường Long)

Nhưng đáng tiếc không phải lúc nào chúng ta cũng có may mắn gặp những hình ảnh, sống trong những trạng thái mang tới cảm xúc đủ mạnh để làm thức dậy cái năng khiếu thi ca, và chính các nhà thơ, bằng tài năng của họ sẽ giúp chúng ta làm điều đó. Bởi vì, như Gaston Bachelard (nhà triết học Pháp,1884-1962) đã viết : “ Nhà thơ là những kẻ có khả năng đánh thức những xúc cảm thi ca đang ngủ yên trong tâm hồn người đọc”. Còn Paul  Éluard thì khẳng định “ Nhà thơ đúng nghĩa phải là người truyền cảm hứng chứ không phải là người đợi được truyền cảm hứng”.  Một tác phẩm mang “tính thơ” vì vậy phải có được khả năng khơi gợi và tạo ra những cảm xúc thăng hoa nơi người đọc. Không cần phải đi vòng qua ngả đường khó khăn của nhận thức lý tính, không cần phải cố công mở cho được những cánh của nặng nề của lâu đài kiến thức, một bài thơ hay luôn dễ dàng tiếp cận với “hồn thơ” đang trú ngụ trong mỗi chúng ta.
Các nhà thơ vì thế sẽ có “ nhiệm vụ” khơi gợi lại và khắc sâu hơn những cảm xúc đã hình thành ở những thời khắc quan trọng mà chúng ta đã “thực sự sống”, những cảm xúc sâu lắng và mênh mang mà chúng ta đã trải qua khi “ ngộ” ra được một vẻ đẹp nào đó đang tồn tại xung quanh chúng ta.

Con có nghĩ : ắt là phải thế/Một đôi lần con ghì siết hai tay?ng thơ đẹp của trần gian ứa lệ/bảo con rằng: hãy nhớ phút giây này”(Phụng Hiến- Bùi Giáng )

Họ- các nhà thơ, thực hiện điều đó bằng những ngôn từ tỏa sáng hay được chiếu rọi theo những cách rất riêng của họ để cấu thành nên một hệ thống những hình ảnh phong phú và gợi cảm. Khi đánh thức được cái hồn thơ đang yên ngủ, các nhà thơ cũng đã giúp người đọc khôi phục lại cái khả năng tri giác về vẻ đẹp của thế giới. Và cái đẹp thì luôn là một “ suối nguồn thuần khiết”. chữa lành các vết thương, truyền nghị lực  để đi tiếp cuộc hành trình trong cõi đời này.

“Ðỉnh núi căng Xuân /Cây đâm sướt vòm Trời /…Thân cỏ hoang oằnbật bứ nhựa đồng thanh từng cơn tràorạp/ Khói ấm ườn mình vươn lên /Cái nhớ quẩn chân như con suối nhỏ” ( Đỉnh Hoa- Phương Lan)

Thơ ca luôn là một cuộc chơi của ngôn ngữ. Để biểu đạt cái Đẹp, nhà thơ phải sử dụng đến các từ ngữ, các âm sắc, các vần điệu. Họ vui đùa hay sáng tạo với những thanh âm. Và như thế, một cách vô thức, nhà thơ đã tìm lại được một niềm vui đã bị quên lãng: cảm xúc với những âm thanh. Ngay từ khi nằm trong nôi, một đứa trẻ sơ sinh cũng sẽ nhận ra mỗi bộ phận cơ thể mình đều có khả năng sinh ra các thanh âm, các tiếng động. Rồi đứa trẻ bước vào giai đoạn tập nói, nó sẽ cảm thấy ngạc nhiên và thích thú lắng nghe những âm thanh từ miệng mình thốt ra khi bập bẹ thốt ra những từ ngữ đầu tiên. Năng khiếu thi ca sẽ hình thành trong thời thơ ấu khi đứa trẻ làm quen với các từ ngữ các vần điệu trong những bài hát đồng dao, hay khi tìm cách thay đổi vị trí / ý nghĩa của các từ để hình thành những câu mới và mang đến những xúc cảm khác lạ. Giống như những đứa trẻ, các nhà thơ cũng bị lôi cuốn bởi các âm tiết và nhịp điệu của các vần thơ. Và cũng giống như những đứa trẻ khi đối thoại với thế giới bên ngoài, trong sáng tác, nhà thơ phải chiết xuất ra những cảm xúc nhiều gấp bội phần so với những kiến thức hay trí tuệ mà họ có , Paul Éluard đã từng nói : “ một nhà thơ - đó phải là một “giáo sư” về những cảm xúc”. Đọc một bài thơ “ có tính thơ đích thực” là chúng ta đang học cách để có được một tâm hồn nhậy cảm và giầu có về cảm xúc. Một bài thơ sẽ chẳng cho chúng ta biết gì nhiều về trí tuệ hay học vấn của người viết, nhưng với vài từ chứa đựng trong một vần thơ , chúng ta- những người đọc- cũng có khả năng nhận biết tác giả đang hạnh phúc tột cùng hay chất chứa trong mình một nỗi buồn thăm thẳm.

“Ðổi bất an này lấy một bất an khác
/ Chống chênh này lấy một chống chênh khác” (Đỉnh Hoa-`Phương Lan)

Ngược với những định kiến tồn tại bấy lâu nay, các nhà thơ không phải là những kẻ sống “trên mây trên gió”, hơn ai hết họ là những người có những liên hệ “máu thịt” nhất với đời sống xã hội. Suy tưởng và cảm xúc  của họ về những gì đã, đang và sẽ xẩy ra trong thế giới mà họ đang sống luôn luôn mãnh liệt và sống động hơn so với những người khác.Trong các tác phẩm của mình, các nhà thơ lớn luôn băn khoăn day dứt với những câu hỏi về cuộc sống và về cái chết. Nhà thơ Đức, Achim Von đã nói :” Nhà thơ, đó là kẻ có được chìa khóa của một lối vào ở thế giới khác”. Một người có khả năng viết ra được những vần thơ tuyệt diệu phải là người biết đánh thức những ký ức trong tiềm thức không chỉ của chính mình mà còn của những ai đọc thơ của họ. Theo Gérard de Nerval :”Duy nhất các nhà thơ là những kẻ có thể vượt qua cái ngưỡng chia tách cuộc đời thực anh ta đã sống với những cuộc đời khác.” Victor Hugo, Beaudelaire, Mallarmé- những nhà thơ vĩ đại - đều nhắc tới cái khả năng thấu thị, cái khả năng nhìn xuyên thấu ấy của các nhà thơ.Nhưng Rimbaud là người khẳng định rõ ràng và dứt khoát nhất về điều này : “ tôi nói rằng nhà thơ phải là một kẻ tiên tri, phải là người có con mắt nhìn xuyên thấu qua mọi sự vật của thế gian này”.
Khái niệm hiện đại trong thơ ca thực sự là một cái gì đó rất mong manh và không quá quan trọng? Bởi lẽ những bài thơ ngày hôm nay đang được tung hô và xưng tụng là “hiện đại” hay “ hậu hiện đại” gì đó ngày mai có thể sẽ bị  thay thế bằng những bài thơ khác.( Giống như những bài thơ từng được gọi là Thơ Mới với tuổi đời giờ đây đã ngót nghét một trăm năm!). Nhưng có lẽ giờ đây một bài thơ được xem là có tính “hiện đại” phải có khả năng “kể” được bằng những hình ảnh. Hình ảnh trong thơ hôm nay không còn là sự sao chụp thô thiển hiện thực, đó là một sáng tạo thuần khiết của cảm hứng, vụt hiện ra từ những thế giới siêu thực.Trong quá trình hình thành bài thơ, hình ảnh bao giờ cũng là cái vọt đến trước, bỏ lại ở phía sau những “suy nghĩ” hay những “cân nhắc” duy lý. Những bài thơ giờ đây thường được viết ra trong mối liên hệ với “con người nội tâm” của nhà thơ, đầy bí ẩn, sâu lắng và bất ngờ.Sự bất ngờ lan tỏa từ những cảm xúc nhiều hơn là từ chất trí tuệ của bài thơ. Các hình ảnh ở đây được tạo ra từ việc ghép nối hay xích lại gần nhau của những thứ hiện thực rất xa nhau, một sự kết hợp gây kinh ngạc nhưng lại luôn chính xác kỳ lạ. Độ chính xác càng cao, khoảng cách ( theo quan niệm thông thường) của hai hiện tượng càng xa nhau thì càng tạo ra sức mạnh và sự quyến rũ của bài thơ. Khi làm thơ, nhà thơ thường phải bỏ qua các quy tắc ngữ pháp và logic thông thường để diễn tả cảm xúc và nhất là không để nó bị nhạt nhòa đi trong cái đơn điệu của một câu nói thông thường.Những bài thơ hiện đại phải là những bài thơ chỉ ra cho chúng ta thấy được những “hình ảnh nguyên thủy” và những “ cảm xúc nguyên thủy” của lần bắt gập đầu tiên về các sự vật trước khi chúng trở nên vô vị, nhạt nhẽo và tầm thường bởi thói quen lặp đi lặp lại khi nhìn chúng sau đó . Ví dụ như trong câu thơ “Tôi nhìn thấy cổ của mặt trời bị cắt” Paul Valéry không giải thích cho chúng ta rằng mặt trời được so sánh giống như một cái đầu bị cắt cổ. Đơn giản ông chỉ nói lên chính xác cái mà ông đã “trông thấy”.Trong thơ ca hiện đại, không nhất thiết phải hiểu cặn kẽ mọi ngữ nghĩa để có được cảm xúc. Và những cảm xúc gợi ra từ bài thơ chính là chìa khóa để người đọc tiếp tục tự mình khám phá. Những cảm xúc đó sẽ lớn dần lên, vượt qua cả cái biên giới hạn hẹp của những nghĩa quen thuộc sáo mòn của từ ngữ và làm sống dậy từ đáy sâu trong mỗi người đọc những khả năng thăng hoa của tâm hồn , từ lâu đã bị chôn vùi bởi sự ô nhiễm của môi trường sống.


“ Tôi bắc một cây cầu/Giữa biển mênh mông/Cây cầu chỉ có một chân/
Chạy đi đâu một mình ngơ ngác ..”.
“ Giấc mơ- Giáng Vân”


Có một thực tế là chúng ta luôn dễ dành chấp nhận tính đa nghĩa hay tính siêu thực của những hình ảnh xuất hiện trong một giấc mơ nhưng lại vô cùng khó khăn để chấp nhận khi bắt gặp chúng trong một bài thơ nào đó. Sẽ dễ dàng để hiểu thơ ca hiện đại hơn nếu chúng ta tiếp cận chúng cũng giống như chúng ta đã tiếp cận với những giấc mơ. Theo Freud thơ ca và những giấc mơ đều là kết quả của một quá trình hoạt động của vô thức, của cái “tôi” bên trong, đều sử dụng những nguồn năng lượng phóng khoáng vô tận của tiềm thức để xây dựng những hình ảnh Mỗi hình ảnh sẽ là sự đan xen, sự giao thoa của rất nhiều suy nghĩ và những ký ức của những thời kỳ hay những hoàn cảnh rẩt xa nhau, càng đa nghĩa, càng có nhiều lớp ngữ nghĩa xếp chồng chéo, đan xen vào nhau, những hình ảnh ấy càng có khả năng làm sống dậy nơi người đọc nhiều cảm xúc phong phú.
Vào buổi sáng khi chúng ta ôn lại những hình ảnh đã xuất hiện trong giấc mơ đêm hôm qua, chúng ta luôn có một ham muốn mạnh mẽ được gỡ rối, được làm sáng tỏ các chuỗi mắt xích đã liên kết các hình ảnh, các câu chuyện xẩy đến trong mơ. Chúng ta đã xây dựng giấc mơ của mình từ chất liệu có ý thức cũng như từ cõi vô thức đầy bí ẩn bên trong chúng ta. Ở đây sẽ gặp lại những gì vừa mới trải qua hòa trộn lẫn với những gì đã xẩy ra từ rất lâu, gần như đã bị lãnh quên trong ta, nhưng cái cách thức đan xen và hòa trộn của chúng với nhau luôn làm chúng ta ngạc nhiên. Đôi khi lại xuất hiện những hình ảnh hoàn toàn mới, chưa từng xẩy ra , như một điều dự báo cho tương lai.Theo Freud thơ ca cũng là những lời cất lên từ những bản năng bị kìm hãm trong mỗi chúng ta, từ những ký ức của “con người thơ” đang ẩn náu trong mỗi chúng ta, cái ký ức bị chôn vùi trong những góc sâu nhất của tâm hồn, bị che khuất bởi bao nhiều những sự kiện vụn vặt của những quãng đời đã trải qua.Tình trạng đó giống  như giấc mơ cứ sống luẩn quất trong trí não của một người đang ngủ.Nhưng điều khác biệt quan trọng ở đây là một người khi ngủ mơ thì hoàn toàn không có liên hệ với cuộc sống hiện thực, trong khi một nhà thơ khi sáng tác lại sống sát kề với hiện thực và phải biết tạo ra được một mối liên hệ chặt chẽ giữa con người bên trong và bên ngoài của mình.
Như vậy một phương pháp đúng đắn và hiệu quả để cảm thụ thơ ca là xem một bài thơ như một “giấc mơ” sâu sắc về hiện thực sống. Nhà thơ như một người mộng mơ, một người “mộng mơ tinh tế và sáng suốt”, người đã cho cấp chúng ta một cái nhìn chính xác hơn về thế giới thông qua những hình ảnh (theo cách riêng của tác giả) đã từng tồn tại ở đó. Một nền giáo dục cẩu thả, nhồi nhét và áp đặt những khuôn mẫu cứng nhắc về cách cảm xúc khi cảm thụ văn chương cho lứa tuổi học trò , một cuộc sống quay cuồng trong những lo toan vật chất của lớp người đã trưởng thành ...tất cả những điều đó hiện nay đang góp phần hủy diệt đi cái khả năng cảm nhận trung thực về thế giới và càng ngày hiện thực sẽ càng bị che khuất khỏi tầm quan sát của chúng ta. Chúng ta sẽ không còn khả năng nhìn  thấy mọi sự vật như nó vốn có mà chúng ta sẽ chỉ nhìn thấy sự vật theo cách mà chúng ta muốn quan niệm chúng là như thế. Cái đó thực sự nguy hiểm và đáng báo động giống như hoàn cảnh một người tự bịt mắt mình rồi đi băng qua ngang đường vào giữa giờ cao điểm.Trong bối cảnh đó, Thơ Ca là một trong những cứu cánh có thể giúp chúng ta tìm lại được cái nhìn trong sáng hồn nhiên không định kiến để nhìn nhận thế giới. Một “bài thơ hay” đó là một sự chia sẻ giữa con người với con người, đó cũng là một thông điệp mang tính nhân văn vừa nhẹ nhàng thanh thoát vừa trĩu nặng cảm xúc,vừa chân tình gần gũi vừa rộng lớn bao la ,một bài thơ hay phải vượt thoát được ra khỏi những phạm vị hạn hẹp (về phương diện ngữ nghĩa) của những từ ngữ và quan trọng nhất đó là người đọc phải cảm nhận được ngay tất cả vẻ đẹp của nó không cẫn đến bất cứ sự diễn giải dài dòng nào từ bên ngoài.

Dương Thắng 
Bài đăng báo Văn Nghệ Trẻ số 08(24/2/2013)

Thơ Song Thu

Thơ Song Thu

Em và thơ
Một đời chả thích đọc thơ
Chê chàng thi sỹ ngẩn ngơ... tang tình
Chợt hôm thơ rụng sân đình
Lượm về nếm thử thấy mình... tình tang
Nay thơ như trái sấu vàng
Còn em như gái nhỡ nhàng thèm chua...

Songthu.blog

Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2013

Góc riêng tư/ Nhắn tin

Sau gần hai tháng về quê, chúng tôi đã trở lại Sài Gòn chiều 2/3/2013. Các công việc thuộc phạm vi phongthuybnn/ Các công việc trao đổi, nhận bài vở, gửi biếu, tặng sách Thơ Bạn Thơ và Văn Bạn Văn và mọi giao dịch cá nhân khác liên quan đến Nguyễn Nguyên Bảy và Lý Phương Liên, được bắt đầu trở lại từ 4/3/3013. Trân trọng cảm ơn và xin giao dịch trước qua điện thoại 0989722051

Nguyễn Nguyên Bảy.

Thơ NNB/ Thay lời chào tạm biệt..


thơ nguyennguyenbay

THAY LỜI CHÀO TẠM BIỆT
KINH THÀNH CỔ TÍCH

Nam mô..
Thôi Tết ở lại quê
Tôi đi miền mưa nắng
Cam Canh cứ vàng cho thắm yếm
Bưởi Diễn cứ ngọt cho son môi
Mặt Tây Hồ cứ hoan run rẩy sóng
Đào cứ phai về gốc luân hồi
Giếng Đường Lâm cứ vơi đầy năm tháng
Sông Cái cứ xuôi thuyền cỏ mật tỉnh mê…

Nam mô..
  Thôi Tết ở lại quê
Tôi đi miền mưa nắng
Thơ cứ thả lên trời cho Văn Miếu ấm
Chữ ông đồ cứ đóng oản đồ xôi
Nhương Trần cứ chấm com lời đen trắng
Cỏ hoa khuây khỏa phận người
Quyền Văn Minh cứ thổi nhạc lên trời
Hoa Sữa chữ tình thương giận

Nam mô Tết..
Xin đừng tội nghiệp thân tôi
Tuổi già lẫm chẫm
Còn võng theo mưa phùn rét đậm
Tha hương

Tràng hạt lần tay mò mẫm
Thăng hồn gõ mõ tụng chuông
Nam mô Tết
Xin hiện về Tấm Cám quê tôi..

nguyennguyebay.blogspot.com

Thơ Nguyễn Minh Khiêm


Thơ Nguyễn Minh Khiêm

Có phải vì lời ru đến muộn

Buổi sáng bắt đầu từ chỗ miệng người sói lở suốt
bao nhiêu thế kỷ quanh cửa hang Lý Thông lấp đá giết Thạch Sanh
Hình thành vực thẳm trong rất nhiều ánh mắt
Trĩu xuống những đám mây chứa đầy dấu hỏi
Có phải tiếng à ơi đến muộn hơn mâm lễ vật voi chín ngà, gà
chín cựa, ngựa chín hồng mao vua Hùng kén rể
Đến muộn hơn Sơn Tinh ném đá xuống đầu Thủy Tinh máu
lênh láng một vùng châu thổ
Để lại vết sẹo dài trong ký ức hết thế hệ này qua thế hệ khác về một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt
Có phải tiếng à ơi đến muộn hơn tiếng thở dài của Lang Liêu
cùng vợ con sấp mặt xuống đồng dệt khúc hát ai ơi bưng bát
cơm đầy
Đến muộn hơn tiếng trống đồng linh khí của một nền văn minh
lúa nước dùng làm trống trận
Nên mỗi lần đem bánh chưng bánh dày dâng ngày Giỗ Tổ
không khỏi chạnh lòng sự dẻo thơm được ninh trong nước sôi
lửa bỏng
Có phải tiếng à ơi đến muộn hơn lúc Tấm xui Cám trèo cau nên trang sách nào mở ra cũng kinh hoàng vại mắm
Đến muộn hơn những chiếc lông ngỗng Mỵ Châu chỉ đường
cho Trọng Thủy nên câu thơ viết về tình yêu vẫn hiển hiện pho
tượng đá cụt đầu
Đó là chỗ thời gian đánh mất sắc màu, bài học nhân cách làm
người không có lối nào đi tắt
Bình minh rất đẹp dưới đôi cánh của bầy chim thiên đường
Nhưng ngọn gió mùa xuân vẫn có nhiều đứt gãy
Ánh mắt mẹ ta vẫn chưa nguội bớt khói nhang nghi ngút phía
chân trời
Bọc trứng Âu cơ nở ra trong tâm bão phiêu liêu cuối bể cùng
rừng
Gươm giáo cung tên lúc nào cũng đặt trước miếng cơm manh áo
Phải chăng vì lời ru đến muộn?

19.2.2013

Những cái thước

Sứt đầu cũng thước. Sứt cạnh cũng thước. Một đoạn dây thừng bê bết phân tro cũng thước. Gang vội mấy gang tay cũng thước. Nhặt một đoạn cành khô cong queo bẻ ra áng chừng cũng thước. Không số má gì cũng thước.

Nhưng lúc nào những thứ ấy cũng tự hào. Ta là thước. Ta là
chuẩn mực. Ta đã đo quảng trường. Ta đã đo những tòa nhà vĩ đại. Ta đã đo cánh chim đại bàng. Ta đã đo nanh hổ. Ta đã đo mọi dòng sông. Ta đã đo biển cả. Ta đã đo những chòm sao.

Những cái thước ngẩng cao đầu hát. Sự tạp nham ngẩng cao đầu hát.

24.1.2013

Xúc xắc giao thừa
Chợt nhớ giao thừa những câu thơ không có pháo hoa
Thầm chúc tết mẹ dưới đèn dù pháo sáng
Cả làng ra ngã tư lắng nghe Bác đọc thơ chúc mừng năm mới
Trai gái yêu nhau đội nùn rơm hái lộc

Chợt nhớ giao thừa những câu thơ ươm bao nhiêu nắng
Đất được tưới bằng lời ru có rất nhiều cơn khát
Ánh mắt khuya gieo hạt xuống tiếng chuông điểm lúc không giờ
Hy vọng mùa quả chín rung trên tờ lịch

Chợt nhớ giao thừa những câu thơ lúc lắc trên con tàu mất ngủ
Không nhớ, không biết ai đọc thư chúc mừng năm mới
Vội vã tình yêu vội vã kiếm việc làm
Đánh rơi cả những lời mừng tuổi

Tờ lịch cuối cùng rơi xuống mở toang hoang một miền ký ức
Bức tranh được ghép bằng ba trăm sáu mươi lăm mảnh đủ thứ bột màu
Vẽ bằng những ngọn sóng trái tim không kiểm duyệt
Thành chuông ngân xúc xắc giao thừa

5.1.2013

Thượng Đế

Ngày nào Người bày ra chiếc bàn
Để nhận những trái tim hiến tế

Bàn tay Người không vấy máu
Đôi môi Người chín mộng nhân từ
Người là Đấng Tối Cao phân phát quyền năng không ai có
quyền phán xử

Người trang bị cho những sinh linh nhỏ bé của mình nọc độc
Những cặp nanh lớn
Những bộ móng vuốt khủng khiếp

Người đặt vào đầu họ một thứ duy nhất là đức tin
Người giáo dục họ duy nhất một nghĩa vụ dâng hiến
Người mê hoặc họ một nhận thức duy nhất dâng hiến cho Người
là hạnh phúc

Trên bàn tiệc của Người là những vụ hành quyết
Con người tự mổ bụng moi tim gan mình đặt lên đó
Con người tự chặt chân tay mình, tự chặt đầu mình dặt lên đó

Bữa tiệc của Người kéo dài qua nỗi sợ hãi của mọi dân tộc, mọi
thời đại, mọi lứa tuổi, mọi giới tính
Và thơ cũng tự moi tim mình đặt trên chiếc bàn hiến tế
Bình minh là máu sinh linh phun xé chân trời.

7.2.2012

Thơ Nguyễn Minh Khiêm/ Tác giả gửi bài

Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2013

Nguyễn Trọng Tạo viết về Văn Cao


BA BIẾN KHÚC VĂN CAO

NGUYỄN TRỌNG TẠO

1. Người gọi ông là “ba đỉnh núi sương mù”. Người gọi ông là “Dòng sông ba nhánh”. Người gọi ông là “Nghệ sĩ đa tài”. Người gọi ông là “Bậc tài danh thế kỷ”… Khi tôi gặp ông thì ông đã 57 tuổi, chòm râu dài phất phơ ngả bạc như tiên lão bảy mươi. Ông ngồi một mình trên đi –  văng đệm vải cũ càng, mắt nhìn vào chén rượu gạo bình dân như chẳng chờ đợi một điều gì. Có lẽ ông đã ngồi như mấy chục năm liền. Những chai rượu đầy vơi vơi đầy không nhớ  đã bao lần.
Cũng không nhớ đã bao lần trên đất nước này và cả những nước khác, người ta đã hát vang bài ca của ông, bài Quốc ca Việt Nam mang hồn thiêng sông núi: Đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu quốc. Bước chân dòn vang trên dường gập ghềnh xa.
Khi nghe Phan Lạc Hoa giới thiệu tôi, mắt và miệng ông ánh lên nụ cười gần gũi, bình dị: “À, cái anh Nghệ nhận Quan Họ làm quê đây!”. Ông với tay kệ tủ lấy thêm ly, và Nguyễn Thụy Kha rót rượu. Ông đối với bọn trẻ chúng tôi như với bạn. Khi thân mật rồi, hầu như chẳng còn khoảng cách tuổi tác. Có lẽ vì thế mà ông luôn luôn mới. Chúng tôi rủ ông đến quán lòng lợn tiết canh đầu chợ Đuổi, ông đồng ý ngay, nhưng nhắc là nên mua rượu ở quán cạnh bến xe Kim Liên, loại rượu gạo ông thường uống. Quán đông quá, chúng tôi mượn một cái chiếu trải vào túp lều tranh bỏ trống bên cạnh. Cứ ngồi xếp bằng mà uống rượu và hút thuốc lào như ở làng ở xã. Người ra vào chợ đông đúc, ồn ào, hình như cũng không ai biết ông già ngồi quán bình dân này là tác giả Quốc ca. Còn chúng tôi, lần đầu tiên được biết những bài thơ ông làm để rồi cất lại trong lòng, không đưa in đâu cả, mà dù có đưa in in người ta cũng chẳng in cho. Mấy chục năm nay, ông chỉ làm bìa sách, vẽ hình minh họa cho báo và làm nhạc… không lời. Những bài thơ của ông khiến chúng tôi nổi cả da gà, kinh ngạc vì thán phục. Thơ ông đẹp một cách quyết liệt. Thơ của ông thật đến siêu thực. Thơ của ông mới bất ngờ như mầm cây vừa đội đất trồi lên.
Buổi sáng nay cả phố phường như mở hội.
Mọi con người đeo mạt nạ đi chơi.
Vui lên cành non
Lá bàng trên phố xanh màu ngọc
Những mặt nạ gặp nhau chào hỏi
Ô kìa
Nước mắt mồ hôi
Sao chảy ra trên từng mặt nạ
Đến giờ, tôi vẫn nhớ giọng vang trong của ông đọc thơ trong quán rượu. Bài thơ Năm Buổi sáng không có trong sự thật ông làm năm 1960 mà tôi tưởng ông vừa làm trong quán rượu năm 1980 này. Chúng tôi nghe như nuốt từng lời thơ của ông vào tâm khảm. Khi ngấm rượu, ông nói hay đến nỗi tôi tưởng là đang nghe ông trong giáo đường chứ không phải giữa chợ. Vì thế mà chúng tôi đều thuộc bài thơ ngắn Không đề ông làm năm 1967. Bài thơ như một cuốn phim cực ngắn chứa đầy âm nhạc và treo lơ lửng một câu hỏi trước cuộc đời:
Con thuyền đi qua
Để lại sóng
Đoàn tàu đi qua
Để lại tiếng
Đoàn người đi qua
Để lại bóng
Tôi không đi qua tôi
Để lại gì?
Hơn 20 mươi năm “im lặng” về thơ lại chính là thời gian ông làm thơ nhiều nhất. Những bài thơ chi chít trong cuốn sổ tay nhỏ xíu úa màu thời gian vàng vọt. Những bài thơ viết trên vỏ bao thuốc lá nhặt được trong quán rượu. Có bài thơ được ghi lại không phải chữ của ông mà là chữ của vợ ông, bà sợ ông quên đi mất nên bắt ông đọc lại để bà chép lại. Năm 1987, Nguyễn Thụy Kha đã lần mò chép lại những bài thơ trong tập bản thảo nhòe mờ ấy của ông rồi đưa cho tôi đọc. Giữa quá nhiều bất trắc cuộc đời, tiếng thơ Văn Cao chẳng bao giờ đổi giọng. Chữ nghĩa của ông như được viết ra từ ngòi bút kim cương chứ không phải bút lông bút sắt. Và khi tiến hành chọn bản thảo tập thơ , Văn Cao rất vui lòng ủy thác cho Nguyễn Thụy Kha, Thanh Thảo và tôi tuyển chọn. Hầu như ông hoàn toàn yên tâm về việc đó. Ông nói: “Ba thằng mày bảo được là được!”. Dù là trong thời kì “đổi mới” rất mạnh mẽ, chúng tôi vẫn thấy ông có một bài thơ mà nhà xuất bản khó lòng chấp nhận, đấy là bài Đồng chí của tôi viết năm cải cách ruộng đất (1956). Bài thơ tràn đầy lòng tin vào chủ nghĩa xã hội mà cảnh tỉnh những sai lầm của hiện tại, nó là tiếng lòng thống thiết của người cộng sản bị xử bắn oan gửi tới các đồng chí của mình. Không trung thực với Đảng, không có lòng can đảm của một đảng viên, không chan chứa một trái tim nhân đạo… không thể viết được một bài thơ rớm máu như thế. Nhưng 30 năm và hơn thế nữa, nó vẫn chỉ là bài thơ của riêng ông. Chúng tôi biết điều đó, và đề nghị ông “để lại”, ông đồng ý ngay. Đầu năm 1995 này, tôi nhắc lại với ông bài thơ ấy, và thấy đã đến “thời” bài thơ có thể in được rồi, nhưng ông nói sau khi nhấp một ngụm rượu: “Thôi, cứ để sau khi mình chết rồi in cũng chưa muộn”. Ngày ông qua đời, tôi bỗng mở sổ tay xem lại bài thơ ấy, và tôi đã khóc.
Người ta các đồng chí của tôi
Treo tôi lên một cái cây
Đợi một loạt đạn nổ
Tôi sẽ dẫy như một con nai con
Ở đầu sợi dây
Giống như một nữ đồng chí
Một anh hùng của Hà Tĩnh
Tôi sẽ phải kêu lên
Như mọi chiến sĩ bị địch bắn
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Vẫn còn là một đảng viên
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Máu của tôi vẫn còn là máu của Việt Nam
Ở dưới gốc cây có các cụ già các bà mẹ
đã nuôi cách mạng
Các em nhỏ từ ba tuổi đứng nhìn tôi
dẫy chết
Có mẹ tôi
Ba lần mang cơm đến nhà tù
Hãy quay mặt đi
Cho các đồng chí bắn tôi
Tôi sợ các cụ già không sống được
Bao năm nữa
Để nhìn thấy xã hội chủ nghĩa
Của chúng ta.
Chết đi mang theo hình đứa con
Bị bắn
Tôi sợ các em còn nhỏ quá
Sẽ nhớ đến bao giờ
Đến bao giờ các em hết nhớ
Hình ảnh tôi bị treo trên cây
Bị bắn
Hãy quay mặt đi
Cho các đồng chí bắn tôi…
Nước mắt lúc này vì Đảng nhỏ xuống
Dòng máu lúc này vì Đảng nhỏ xuống
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
Đảng Lao động…
(1956)
Tập thơ của ông được in ra không đúng như chúng tôi đã chọn dưới sự ủy thác của ông, 5 bài thơ ông tâm đắc bị bỏ ra, và thay vào mấy bài thơ ông in báo hồi kháng chiến chín năm. Tuy không được hài lòng lắm, nhưng ông cũng mỉm cười sau 30 năm trở lại thi đàn. Ông lại tiếp tục viết những bài thơ mới. Vẫn là Văn Cao tươi ròng, không tuổi.
Tôi đẻ ra trần truồng
được nhưng lót tã
là của cải…
2. Sao tôi lại nhớ sinh nhật 60 tuổi của ông? 15 – 11 – 1983. Chiều trong căn phòng gác hai số nhà 51 Trần Hưng Đạo, nơi Bảo Đại từng ở sau cách mạng tháng Tám, nơi mà một phần tư thế kỷ trước Văn Cao thường xuất hiện cùng bạn bè đồng nghiệp văn nghệ sĩ. Lâu quá rồi ông mới xuất hiện chính thức thức trở lại nơi này, và là nhân vật chính của buổi lễ sinh nhật 60 tuổi do Hội Nhạc sĩ tổ chức. Hoa và rượu. Những lời chúc tụng, những bài hát của ông vang lên mừng tuổi ông. Có cả Thiên Thai, Trương Chi hơn 30 năm vắng bóng trở về, khiến cả hội trường lặng phắc, ân hận và khâm phục, Chiếc dương cầm Đặng Thái Sơn tặng Hội Nhạc sĩ sau lần đăng quang, vang lên những bản nhạc không lời Văn Cao. Những bản nhạc ông viết sau cuộc chiến tranh chống nhóm Nhân văn – Giai phẩm kết thúc, sau cái đêm trắng đi cùng với Hữu Loan quanh hồ Ha – le ngột ngạt, u ám, không biết nói gì trước khi chia tay nhau để tác giả Màu tím hoa sim trở về Thanh Hóa làm một “Lão nông tri điền”. Những bản nhạc chứa đầy nỗi đau  chia cắt  cùng với khát vọng thống nhất cháy bỏng. Đấy là các bản Hàng dừa xa, Sông tuyến và Biển đêm. Rồi đến lượt Văn Cao xuất hiện trước cây dương cầm. Im lặng. Chờ đợi. Ông cứ ngồi im trước cây đàn đến mấy phút liền. Một bàn tay của ông đã bị chấn thương trước đó 10 năm, khi ông đang đi bách bộ trên hè đường và bị một chiếc xe com – măng – ca không số từ dưới đường tạt lên chèn ngã. Ông sẽ chơi đàn thế nào đây? Bỗng bàn tay ông nắm lại thành một nắm đấm. Ông bất ngờ đấm vào những phím đàn, vang lên hợp âm chói gắt như bom nổ. Thêm một nắm đấm nữa. Hai nắm đấm của ông cùng với cả cùi tay vào trút bão táp vào cây đàn, hết lời này đến lời khác. Chuỗi âm thanh ghê gớm ấy bỗng lặng đi đột ngột. Mọi người như nín thở. Ông dùng ngón tay trỏ chầm chậm mổ nhẹ vào một phím đàn, từng tiếng, từng tiếng một vang lên rành rọt, chậm dần, nhỏ dần cho đến khi ông thu bàn tay lại, trong tiếng vỗ tay ào lên không dứt của mọi người.
Trước Văn Cao, chưa thấy ai chơi đàn như thế. Chính vì thế mà ông luôn là ông, không giống ai, và nếu ai muốn giống ông thì cũng khó mà giống được.
Tối hôm đó, ông hẹn mấy người về nhà ông uống rượu. Tôi và Kha tới thì đã thấy Văn Cao đang ngồi cùng Trịnh Công Sơn và Cao Xuân Hạo. Ông nhờ tôi sang gọi Trần Dần bên kia đường Vũ Lợi. Ông bảo: “Có thêm Trần Dần nữa mới vui”. Tôi đến nhà Trần Dần thì ông đang bên nhà hàng xóm. Trong lúc đợi vợ ông đi gọi ông về, tôi nhìn vào bức tường và thấy hiện rõ một hình nhân. Đấy là nơi Trần Dần tựa lưng suốt mấy chục năm qua. Tôi rùng mình hình dung ra cái bóng đang động cựa như một con người thật. Vừa lúc Trần Dần về trong bộ quần áo pirama ngả màu cháo lòng, ông gầy yếu quá, gầy yếu hơn cả cái bóng của chính mình trên tường nhà.
- Anh Văn mời anh sang nhà uống rượu – Tôi nói – Hôm nay sinh nhật anh ấy. Sáu mươi rồi.
-  Thế à? Những ai?
Tôi kể tên mấy người. Trần Dần mỉm cười:
-  Thế thì sang.
Vợ ông nhắc ông thay quần áo. Nhưng bộ quần áo mới cũng đã cũ lắm rồi. Ông kém Văn Cao ba tuổi, nhưng trông già nua và chậm chạp như một ông lão khổ hạnh. Chỉ có đôi mắt là lúc nào cũng có lửa. Cái ngọn lửa đó đã rực cháy trong nhiều tác phẩm văn thơ của ông dọc các nẻo đường kháng chiến: Cách mạng tháng Tám, Trường ca Việt Bắc, Nhất định thắng, Người người lớp lớp… và hàng loạt tác phẩm còn nằm trong bản thảo như tiểu thuyết Cổng Tỉnh, Mùa sạch, Ngã tư những cột đèn, v. v…
Văn Cao với tay lên kệ tủ lấy thêm một cái ly thủy tinh đặt trước mắt Trần Dần. Trong khi tôi rót rượu, ông dặn tôi: “Dần sức yếu, dễ say đấy”. Nhưng sau khi cụng ly, chỉ riêng Trần Dần là uống cạn.
Chuyện trò, đọc thơ, và hát. Cao Xuân Hạo nhớ nhiều những kỷ niệm thời kháng chiến chống Pháp, về những bài hát thời bấy giờ của Văn Cao mà anh đã hát. Văn Cao cũng nhắc lại vài bài hát của Cao Xuân Hạo mà ông đặt nhiều hy vọng. Cao Xuân Hạo có một giọng hát thật vang trong, bay bổng, đã ở tuổi 53. Chúng tôi ngạc nhiên khi nghe bài hát thuở xưa của anh. Văn Cao nói rằng, ngày ấy nếu Hạo đi hẳn vào nhạc, chắc chắn sẽ thành đạt, dù sau này là một dịch giả nổi tiếng về Lép Tônstôi, Đôxtôiepski, Aitmatốp… Trần Dần chỉ lặng im uống và nghe, dù là nghe chính những câu thơ lấp lánh, táo bạo của ông do Nguyễn Thụy Kha hay Văn Cao đọc lên. Chỉ đến khi nghe Trịnh Công Sơn hát, ông mới nheo mắt cười cười, buột ra mấy tiếng: “Tiểu quỷ! Mày là tiểu quỷ!”, rồi cũng chẳng giải thích gì thêm. Cứ thế mà cuộc rượu kéo dài tới nửa đêm, mặc cho bà Băng nhắc nhở về thời gian, và ép người này người khác ăn các món do chính tay bà nấu.
Khi chúng tôi chia tay vợ chồng Văn Cao bước xuống cầu thang, chuông đồng hồ nhà bên điểm 12 tiếng. Thế là trọn ngày sinh nhật của ông. Tất cả chúng tôi đều nghĩ rằng, cuộc đời đã bắt đầu bước vào một ngày mới.
3 Hai mươi năm cuối đời, Văn Cao chỉ viết vài ba bài hát, đấy là bài Mùa xuân đầu tiên (1976) và bài Tình ca Trung du (1984). Bài mùa xuân đầu tiên ông viết sau ngày nước nhà thống nhất, khi cảm xúc trào lên ào ạt ở những người khác, thì cảm xúc của ông lắng lại, bình thản sau quá nhiều xáo trộn cuộc đời. Ông nhìn thấy “mùa xuân dặt dìu theo én về”, ông lắng nghe tiếng “gà đang gáy trưa bên sông”, và ông khẳng định rằng cái “mùa bình thường” đã về: “Từ đây người biết quê người – Từ đây người biết thương người – Từ đây người biết yêu người”. Âm nhạc của ông vẫn đẹp, ấm và sang trọng, thoát hẳn ra ngoài những bài hát reo vui đại thắng lúc bấy giờ. Đó là bí mật tài hoa của riêng ông. Bài hát liền sau đó được dịch và in ở Liên Xô. Chỉ tiếc rằng, hầu như nó chẳng được phổ biến trong đất nước của mình. Có lẽ ông ít viết bài hát ở giai đoạn sau là vì thế. Rồi mùa thu 1984, tôi đi cùng ông trong tốp nhạc sĩ lên Vĩnh Phú theo lời mời của bộ tư lệnh Thông tin. Có lẽ lâu lắm rồi, ông mới có dịp “đi sáng tác tập thể” như lần này. Chúng tôi về một nhà máy thông tin dưới chân núi Thắm, tiếp xúc với những người lính thợ, nghe thành tích của họ, xem họ làm việc và nói chuyện, đọc thơ, hát cho họ nghe. Văn Cao kể lại những kỷ niệm xưa bên dòng sông Lô đã giúp ông viết nên bản Trường ca Sông Lô bất hủ. Trên đường về, gặp nhà thơ Bút Tre, hai ông hôn nhau xúc động chảy nước mắt. Nguyễn Thụy Kha gọi Văn Cao và Bút Tre là tiêu biểu cho hai “trường phái thơ hiện đại Việt Nam”. Các ông được xếp “đồng hạng” với nhau, lấy làm thích thú lắm. Sau chuyến đi ấy, chúng tôi đều viết về bộ đội thông tin, chỉ riêng Văn Cao là viết tình ca. Bài Tình ca Trung du giai điệu sáng láng, lời ca đẹp như thơ. Một cánh tay sông Hồng. Một cánh tay sông Lô. Hai cánh tay như ôm trung du. Và ở đoạn kết là lời hẹn hò trở lại thật bâng khuâng: “Hẹn trở về bên núi Thắm, vào một ngày mùa thu sáng láng… nắng trên đồi như trôi trên sông”.
Càng ngày, sức khỏe Văn Cao càng giảm. Huyết áp thường bị tụt. Phổi bị khô. Cột sống bị thoái hóa, có giai đoạn phải mặc “áo giáp” để đỡ cột sống. Nhưng ngồi với ông, lúc nào cũng vui. Tháng tư 1985, Thanh Thảo ra Hà Nội tổ chức cho Văn Cao, Nguyễn Thụy Kha và tôi vào thăm Nghĩa Bình theo lời mời của Tỉnh. Ông mừng lắm, thậm chí còn nói rằng, có thể đây là chuyến đi cuối cùng về phía nam. Đang chuẩn bị thì ông bị đau, may mà qua nhanh được. Thanh Thảo lấy thêm vé máy bay cho vợ ông, vì nếu  thiếu bà thì chuyến đi sẽ dễ gặp bất trắc, bà còn là “bác sĩ riêng” của ông. Cả tỉnh Nghĩa Bình mừng vui đón ông, chỉ thiếu dựng cổng chào. Tôi nói vui như thế, vì ở đâu ông cũng được quần chúng hâm mộ và kính trọng như đối với một nhân vật đặc biệt của đất nước. Còn ông thì đối với ai cũng bình dị, gần gũi. Đêm ghé vào khách sạn Sa Huỳnh, cả khách sạn mời ông ở lại trọn đêm. Ông gọi những người ở đây bằng em và bảo họ cứ gọi ông là anh. Và ông tự giới thiệu: “Anh chỉ hai mươi thôi – rồi ông chỉ vào vợ – còn đây là bồ của anh”. Chính tâm hồn trẻ đẹp của ông đã xóa đi sự ngăn cách về tuổi tác, về sự mặc cảm giữa con người.
Trong chuyến đi này, ông “phát hiện” ra rượu Bàu Đá, một loại rượu trắng được nấu từ các lò rượu làng Bàu Đá, cách thành Bình Định tám chín cây số. Văn Cao cho rằng trong đất nước này, chỉ có rượu Bàu Đá mới có thể sánh được với rượu Làng Vân nổi tiếng, ông nhấp rượu Bàu Đá và nhận xét: “Rượu Vân mỏng, rượu Bàu Đá dày”. Xe đi tới đâu cũng trở theo rượu Bàu Đá, vì ông không hợp với bia. Đến huyện Mộ Đức, trong bữa tiệc chiêu đãi, thấy ông mang rượu trắng ra uống, người ta liền mang ra mấy chai Napoléon thật đặc biệt: vỏ chai xùi bởi những con sò biển đã bám chặt từ bao giờ. Đấy là rượu huyện vừa vớt được từ dưới đáy biển Ngang. Chả là hồi 1976, một con tàu chở rượu từ Sài Gòn ra Hà Nội phục vụ đại hội Đảng đã bị đắm ở đây. Ôi, rượu Napoléon dưới đáy biển cả chục năm trời, thế gian này đã mấy ai được uống? Thế mà Văn Cao và chúng tôi đã gặp may mắn bất ngờ.
Mấy ngày sau, Văn Cao viết được hai bài thơ Qui Nhơn 2 và Quy Nhơn 3 khép lại chùm thơ Qui Nhơn độc đáo mà bài Qui Nhơn 1 ông đã viết ở Hà Nội. Khuya lắm rồi, ông gõ cửa phòng tôi, gọi tôi sang phòng ông uống rượu, và nghe thơ mới làm. Tôi giật mình khâm phục bài thơ và sức sáng tạo của ông. Chúng tôi, ai mà chẳng nhìn thấy những tháp Chàm đơn côi dọc miền Trung, nhưng cái nhìn của ông thật lạ lùng:
Từ trời xanh
rơi
vài giọt tháp Chàm
Tôi đọc kỹ hai bài thơ mới của ông, và xin ông sửa một chữ trong đoạn kết bài Qui Nhơn 2: “bỗng một ngày bà mẹ Qui Nhơn – nói với tôi một lời – một tiếng – chào con!”. Theo tôi không nên dùng chữ chào, bà mẹ mà chào con thì khách sáo thế nào ấy, nên dùng chữ à con, nó vừa tự nhiên, vừa tình cảm. Văn Cao khoái lắm, ông khen tôi: “Mày đúng là thằng Nghệ”. Và ông nhờ tôi lấy bút sửa vào bản thảo giùm ông. Trong nghệ thuật, Văn Cao là một người biết lắng nghe. Chính vì thế mà ông trở thành tầm cỡ.
Mỗi lần ra Hà Nội, tôi thường cùng Nguyễn Thụy Kha, Thanh Thảo hoặc Hoàng Phủ Ngọc Tường ghé thăm ông ở căn nhà 108 Yết Kiêu. Lần nào cũng được ông dành cho chai rượu ngon. Những chai rượu người ta tặng ông. Lần cuối cùng gặp ông ở Đại hội Nhạc sĩ, ông lại bảo: “Tao dành chai rượu, trước khi về, mày đến mà mở”. Nhưng tôi đã lỡ hẹn với ông. Ngày Hà Nội đưa tang ông, tôi ở Huế buồn quá, đến nhà Mai Khắc Ứng uống rượu, cùng nhau tưởng nhớ ông. Tôi uống gần hết bình rượu mà Mai Khắc Ứng không dám ngăn, vì sợ tôi buồn. Mãi ngày sau tôi mới biết, đấy là bình rượu nhung hươu bạc triệu của ông bạn họ Mai. Trong cõi Thiên Thu, giá mà biết chuyện này, chắc Văn Cao sẽ cả cười…

Huế, tháng Bảy, 1995
Nguyentrongtao