Thứ Ba, 6 tháng 3, 2012

Thơ Vân Hạc viết nhân ngày 8/3

Nói với em

Vân Hạc

Không! Anh mãi nói lời không
Sợ
chi khi lửa tình chưa tắt
Vợ
của anh, người anh yêu nhất
Bao năm rồi chăm chút mảnh vườn yêu
Tần tảo chắt chiu gom nắng quái chiều
Độ lượng vị tha khi chồng mây gió
Mê ánh cầu vồng say hương hoa lạ
Khéo lạt mềm buộc chặt cánh buồm anh
Có muộn không em khi tóc mầu sương
Bao đau đớn trái tim son chai sạn
Muốn tưới tình nhưng không còn nước mắt…
Soi trong ánh mắt hiền héo hắt
anh thấu bến bờ em!
.
Dịp 8.3.2012
Thơ Vân Hạc

Chùm thơ Rabindranath Tagore/ bài 3,4


Chùm thơ Rabindranath Tagore

Mười bài trong tập Lời dâng


Poem 3

I know not how thou singest, my master! I ever listen in silent amazement.

The light of thy music illumines the world. The life breath of thy music runs from sky to sky. The holy stream of thy music breaks through all stony obstacles and rushes on.

My heart longs to join in thy song, but vainly struggles for a voice. I would speak, but speech breaks not into song, and I cry out baffled. Ah, thou hast made my heart captive in the endless meshes of thy music, my master!

Bài số 3

Tôi không hiểu lời người đang hát, người ơi! Tôi lắng nghe im lặng, ngỡ ngàng.

Ánh âm bản người sáng tạo soi sáng cùng thế giới. Hơi thở cuộc đời trong giai khúc người gieo lan tỏa mọi phương trời. Giòng suối thiêng liêng trong điệu khúc người tấu vượt từng vách đá cản đường rồi băng mình chảy miết.

Lòng tôi khát khao nhập vào bài ca người hát, song hoài công cất tiếng chẳng thành. Tôi muốn nói, nhưng lời lại rã rời, lạc điệu sượng sùng tôi nức nở lệ rơi. A ha! Người đã giam tim tôi trong lưới nhạc trùng trùng.


Poem 4

Life of my life, I shall ever try to keep my body pure, knowing that thy living touch is upon all my limbs.

I shall ever try to keep all untruths out from my thoughts, knowing that thou art that truth which has kindled the light of reason in my mind.

I shall ever try to drive all evils away from my heart and keep my love in flower, knowing that thou hast thy seat in the inmost shrine of my heart.

And it shall be my endeavour to reveal thee in my actions, knowing it is thy power gives me strength to act.

Bài số 4

Nguồn sống của đời tôi, tôi sẽ luôn luôn giữ gìn thân xác khiết tinh, vì hiểu đã được người âu yếm vuốt ve.

Tôi sẽ luôn luôn giữ gìn tư tưởng lánh xa mọi điều giả dối, vì hiểu chính người là chân lý đã nhóm trong tâm trí tôi nguồn sáng lý trí.

Tôi sẽ luôn luôn đuổi xua khỏi tâm hồn mọi ác ý sâu xa và vun trồng cho tình yêu trong mình bừng nở, vì hiểu người đã ngự trị từ lâu trong sâu thẳm tim tôi.

Và tôi, tôi sẽ đem hết sức mình phát hiện người trong mọi việc làm, vì hiểu chính sức mạnh của người đã cho tôi khả năng hành động.


(còn tiếp)
Nguồn: 10 bài thơ trong tập thơ Lời Dâng của Rabindranath Tagore (Song ngữ Anh-Việt. Đỗ Khánh Hoan dịch. Tạp chí Văn học nước ngoài/ vanvn.net

Chùm thơ Vũ Duy Chu


Chùm thơ Vũ Duy Chu
KHÔNG ĐỀ

Chim nhảy nhót trong lồng
Hót từng hồi lanh lảnh
Ôi mê hoặc giam cầm
Chim quên mình có cánh.

PHÙNG QUÁN

Ông bị treo bút mấy chục năm
Nỗi sợ hãi bị liên lụy mấy chục năm
Người đến thăm ông ban đêm
Người qua ngõ liếc vào nhà ông, bước vội…
Người ta không nói ông vô tội
Rồi đột nhiên thấy ông được tặng thưởng danh hiệu cao quý.
Thôi, cũng mừng cho ông
Mừng cho các tác phẩm của ông
Ông cùng các nhân vật đã già nua của mình
Bước ra từ quạnh hiu, mốc meo, quên lãng…
Ông đi rồi, vĩnh viễn
Bao bài viết ngợi ca, đồng cảm, chia sẻ với ông
Cả điếu văn
Những dòng thấm nước mắt.
Có những giọt nước mắt vai diễn.

NGUYỄN KHẢI

Suốt cuộc đời
Ông đã sống và viết bằng con người khác
Sắp từ giã cõi đời
Ông quyết được sống bằng con người thực của mình
Dù ngắn ngủi, đớn đau, tủi nhục…
Sân khấu cuộc đời
Mọi phấn son sẽ lả tả xuống chân
Ông Đi tìm cái đã mất
Có ý nghĩa gì hàng vạn hàng nghìn trang viết?
Ông đã được chết
Bằng con người thực của mình
Con người văn chương mặc cho đời phán xét
Thân phận và ngòi bút
Trớ trêu…

TRANG THẾ HY
Kính tặng  Nhà văn Trang Thế Hy

Ông là Người bào chế thuốc giảm đau(*) cho bạn đọc của mình
Cho cô gái điếm một hôm bất chợt thèm nghe đọc thơ
Cho Bà mẹ già và thúng khổ qua
Cho Một thiếu nữ không đáng kể …
Dọc hành trình văn chương
Ông cúi xuống những thân phận nghèo hèn
Lắng nghe
Tiếng khóc và tiếng hát
Cùng các nhân vật của mình phiêu dạt
Tóc ông bạc gió sương…
Giã từ ồn ào phố thị văn chương
Ông trở về căn nhà xưa ven dòng kênh
Nghe trái dừa khô rụng trong vườn đêm, buồn như sám hối
Trước nỗi đau cuộc đời
Ông như thấy mình có lỗi.

“…Không yêu hoặc chưa kịp yêu thì đừng giả vờ yêu
Đừng làm cho những độc giả lỡ yêu mình rồi, thất vọng…”
Những trang viết của ông
Không có niềm vui và nỗi buồn nào sang trọng.

Tám mươi tư tuổi rồi
Ông vẫn còn Nợ nước mắt.

Sài Gòn, 15.7.2008
(*): Những chữ in nghiêng là tên các tác phẩm và các câu  văn của Nhà văn Trang Thế Hy.
( Rút từ tập Chưa kịp yêu - NXB Thanh niên, 2008)

Thơ Vũ Duy Chu
Trannhuong.com

Thơ Nguyễn Anh Nông



Lý Phương Liên. Thơ: Nhà thơ Nguyễn Anh Nông gửi đến chúng tôi, qua email, một khổng lồ thơ, gồm 4 trường ca và nhiều tập thơ đã xuất bản. Chúng tôi đang thu xếp thời gian đọc. Để cảm ơn thịnh tình của bạn thơ, Lyphuonglien.thơ xin trân trọng giới thiệu ba khúc thơ ngắn của Nguyễn Anh Nông.


Thơ Nguyễn Anh Nông

NGÕ XUÂN
.
Cây nêu đầu ngõ
Phất phơ dải lụa mềm
Tre pheo tở mở
Trẻ nhỏ nhà ai tụm đứng xem.
.
LÁ TRẦU KHÔNG
.
Xanh xanh cay cay
Cầm lá trầu trên tay
Sao em còn lưỡng lự
Trong vòng tay anh đây.
.
BIẾN ĐỔI
.
Ngày, bốn mùa đắp đổi
Mây đỏng đảnh, kiêu sa
Em nắng mưa bất chợt
Anh, lâm râm, chói loà.
.

Thơ Nguyễn Anh Nông


Bình bài thơ Bán chiếu gon của Trúc Thông


BÁN CHIẾU GON

Cói còn thơm mặt hè
Người bán chiếu đã qua vài chục bước
Chẳng có thi nhân nào chạy theo
Hai hậu duệ người đẹp Nguyễn Thị Lộ
Gày queo
Áo bạc
Thồ xe chiếu đi rong
Chao đường cây xanh Phan Đình Phùng
Đâu kịp ngẩng lên, đâu kịp thở
Hồ Tây thơm chiếu gon tình sử
Bằng sao con mong mẹ mang tiền về
Tận miền quê Tân Lễ.
.
 Trúc Thông

LỜI BÌNH CỦA LÊ LANH : Ấn tượng về hình ảnh người mẹ trong bài “Bán chiếu gon” là sự tiều tụy về mặt thể xác nhưng tâm hồn thì cao cả, hy sinh hết mình vì con cái. Người mẹ trong bài thơ trên là hình ảnh người mẹ lao động cơ bắp, vận chuyển chiếu từ những cơ sở sản xuất,  những cửa hàng kinh doanh tới tận tay người tiêu dùng ở các thành phố.
 Hai dòng thơ đầu: “cói còn thơm mặt hè/người bán chiếu đã qua vài chục bước”. Sự vất vả mà nhà thơ đã nói tới trước nhất là về mặt tốc độ làm việc. Tốc độ vận chuyển càng nhanh thì càng có thể tiêu thụ được nhiều hàng. Cách so sánh bước chân của người bán chiếu nhanh hơn cả sự thăng hoa của các phân tử thuộc loại mỹ phẩm “thơm” là rất lạ. Nếu phải vận chuyển nhanh mà lượng hàng không nhiều thì sự vất vả còn có mức độ. Nhưng ở đây “thồ xe chiếu đi rong” lại quá tải, khối lượng hàng luôn ở trong tình trạng lệch trong tầm với phương thẳng đứng của xe. Con người lúc nào cũng phải huy động toàn bộ sức lực để kìm cho xe luôn ở thế thăng bằng. Đâu được vậy, cái khối lượng hàng cồng kềnh lúc nào cũng “chao” bên này đảo kia. Sức người ở phái yếu dường như khó chống đỡ nổi: “Chao đường cây xanh Phan Đình Phùng/ đâu kịp ngẩng lên/ đâu kịp thở”. Cách sử dụng điệp từ “đâu”, cũng như câu hỏi tu từ “đâu…đâu…” của nhà thơ làm nổi rõ hình ảnh những người mẹ, những người nông dân “đầu tắt mặt tối” ở các vùng quê tìm đường ra thành phố kiếm ăn. Hẳn Trúc Thông   phải có một tình yêu máu thịt với người lao động thì ông mới sáng tạo ra được những vần thơ  đầy tính chân thực đến như thế. Nếu quan sát theo trường không gian bằng cảm xúc thị giác thì đúng như tác giả đã khẳng định: “chẳng có thi nhân nào đuổi theo…”. Tuy nhiên về bản chất thì ngược lại- trái tim nhân hậu của nhà thơ lúc nào cũng trùm lên số phận và cuộc đời những “…hậu duệ người đẹp…”.
Ngoại hình cũng biểu hiện sự vất vả của những người bán chiếu: “gầy queo/áo bạc”. Tính từ “gầy queo” được chắt lọc từ trong đời thường, không hẳn chỉ mang ý nghĩa tả thực mà còn hàm chứa một nỗi niềm thương cảm của nhà thơ.
Từ hình ảnh người mẹ nông dân ở miền quê Tân Lễ  ra thành phố Hà Nội bán chiếu lấy tiền nuôi con, Trúc Thông liên tưởng đến hình ảnh cô hàng bán chiếu gon ở Tây Hồ trong một bài thơ của đại thi hào dân tộc Nguyễn Trãi, ở thế kỷ XV. Chính xác hơn là hình ảnh cô hàng chiếu  Nguyễn Thị Lộ qua cuộc đối đáp thơ giao duyên giữa nhà thơ và nàng. Sự gặp gỡ ấy được lưu truyền qua giai thoại: Một lần trên đường vào triều, Nguyễn Trãi gặp cô hàng chiếu xinh đẹp nên đã có bài thơ phong tình: “Nàng ở đâu ta, bán chiếu gon/ Hỏi thăm chiếu bán hết hay còn/ Xuân xanh chừng độ bao nhiêu tuổi/ Đã có chồng chưa, được mấy con?”. Không ngờ, nàng lại có thơ phúc đáp : “Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon/ Cớ sao ông hỏi hết hay còn/ Xuân xanh chừng độ trăng tròn lẻ/ Chồng còn chưa có, có chi con”. Nhờ có cuộc hội ngộ trên mà Nguyễn Trãi và cô hàng chiếu đã nên đạo vợ chồng. Một cuộc tình đầy thi vị đã đi vào văn chương, sử sách. Lại một lần nữa ta thấy sự so sánh độc đáo của Trúc Thông. Cô hàng chiếu trong cuộc giao duyên kia càng thi vị, hạnh phúc bao nhiêu thì người bán chiếu trong bài thơ hiện đại này càng nhọc nhằn, tủi khổ bấy nhiêu: “Hồ Tây thơm chiếu gon tình sử/ bằng sao con mong mẹ tiền về/ tận miền quê Tân Lễ xa xa…”. Nhà thơ đã sử dụng thi văn liệu từ thời trung đại làm cho giá trị văn chương của thi phẩm vượt lên rất nhiều. “Bán chiếu gon” có kết cấu cách tân. Ba khổ thơ như ba họa tiết hoa văn, gắn kết thành một công trình mỹ thuật, mang dấu tích văn hóa truyền thống và hiện đại. 
Thơ Trúc Thông
Bình Lê Lanh
Trannhuong.com

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2012

Thơ Lý Phương Liên Bài 3 sách Ca Bình Minh, NXB Văn Học


Thơ Lý Phương Liên
Bài 3 sách Ca Bình Minh, NXB Văn Học



3
C
ỘI NGUỒN


NUÔI CON SUỐT ĐỜI LÀ DÒNG MÁU ĐỎ
GIA TÀI CỦA MẸ CHA
NUÔI CON SUỐT ĐỜI LÀ DÒNG SỮA MẸ
CON ĐI HẾT ĐƯỜNG XA…

DÒNG MÁU ĐỎ CỦA MẸ CHA
KHÔNG PHẢI LÀ SẮC MẦU TƯỞNG TƯỢNG
KHÔNG PHẢI LÀ THỨ GÌ DỄ TRỘN
CHẮT TỪ SẮC ĐỎ CỦA DÒNG SÔNG
TỪ VỊ NGỌT CỦA LÚA THƠM
TỪ HƯƠNG MÁT CỦA HOA TRÁI
TỪ SỨC GIÓ CHẠY TRÊN ĐỒNG HOANG DẠI
TỪ BONG BÓNG MƯA THÁNG NĂM…

CON NHÌN VÀO XA XĂM
CỐ NGHĨ VÀ CỐ CẢM

ĐÂU GƯƠNG MẶT CHA NGÀY CON LÊN TÁM
HIỆN HÌNH ĐI SẮC MẦU
LÂU DÀI TRONG NHỮNG MAI SAU
HÌNH ẢNH CHA KHÔNG MỜ NHẠT
HAI BÀN TAY SĂN CHẮC
ĐÔI MẮT SÁNG VÀ NHANH
CHIẾC KÌM ĐEN DẮT CHÉO TÚI QUẦN XANH
MẶT RẠNG RỠ NỤ CƯỜI NHÂN HẬU

VÀ MẸ CỦA CON NGỰC CÒ RỚM MÁU
CÁNH GÁNH NẮNG SANG SÔNG
MÚT MẮT NGÔ KHOAI BỜ BÃI SÔNG HỒNG
CHÂN MANG GIÓ QUA NÚI
CÁNH CÓ CÔ ĐƠN,CÁNH CÓ LẶN LỘI
GÓA CHỒNG NUÔI CON
CÂU CA DAO XÔN XAO TRỜI ĐÊM
VÀ TIẾNG HÁT
XÔN XAO NHỮNG CẢNH ĐỜI ĐÓI KHÁT
MÂY XÁM TAN ĐI CHO NẮNG ẤM ÙA VỀ…

CỘI NGUỒN CỦA ĐỜI CON
DÒNG MÁU CHA SỮ
A MẸ.
 
.
Thơ Lý Phương Liên
NXB Văn Học 2011



Ca bình minh của Lý Phương Liên




Lý Phương Liên. Thơ. Blog.spot:


Nhân ngày Valentin 14/2, con gái Nguyễn Lý Phương Ngọc thiết kế tặng Mẹ blog này, và thế là vì tình già, vì con mà cao hứng thành một blogger.
Blogger Liên em xin kính chào đông tây nam bắc bạn đọc, và hân hoan mời các bạn ghé thăm nhà cho thỏa lòng " Em muốn anh như bàn tay xòe ra là gặp", để cùng nhau chia sẻ vui buồn sướng khổ thơ thẩn thơ. Chỉ thế thôi nhé, đừng ghé nhà em mang theo ganh ghét, thị phi, em già rồi, khổ buồn thêm nữa tội lắm.
Em từ từ sẽ thưa những lời chào thưa dài dòng sau...
Bài dưới đây hiện đang có tại mặt tiền nhà anh trai Trannhuong.com em copy về làm của mình.
Cảm ơn tất cả.
 
Ca bình minh của Lý Phương Liên
 
LÊ XUÂN ĐỐ


NVTPHCM- Tập thơ Ca bình minh của nhà thơ Lý Phương Liên do NXB Văn Học ấn hành vừa ra mắt bạn đọc. Một đêm thơ ấn tượng giới thiệu tập thơ cũng rất ấn tượng Ca bình minh đã được tổ chức vào cuối tháng 3.2011 tại TP.HCM, do nhà thơ Lê Xuân Đố “chủ xị” với sự tham gia của nhiều văn nghệ sĩ: Bùi Quang Ngọc, Nguyễn Nguyên Bảy, Tô Hoàng, Hoàng Hưng, Phạm Lân, Nguyễn Thị Hiền, Nguyệt Lâm, Nguyễn Trọng Tường, Tô Minh Nguyệt, Khiết Cương, Nguyễn Thế Dân, Thái Thành Đức Phổ, Thanh Vân, Phan Lai Triều, Phan Hoàng, Nguyên Hưng, Trần Hoài Anh, Ngô Thị Hạnh,… và đặc biệt nhà xã hội học Eva người Thụy Điển. Sau đây chúng tôi xin lược trích một phần bài đề dẫn của nhà thơ Lê Xuân Đố trong đêm giới thiệu tập thơ Ca bình minh, cũng qua đó giúp người đọc hiểu hơn hành trình thơ chông gai của nữ sĩ tài hoa lận đận Lý Phương Liên...
Không hiểu sao tôi cảm tưởng đêm thơ này vui vẻ, được chờ đợi như một lễ thành hôn đám cưới. Chủ quan chăng? Bởi những gì trong không khí đêm nay và từ lời Mở lòng đầu tập thơ Lý Phương Liên, cùng chân dung Lý Phương Liên tuổi mười tám đôi mươi do họa sĩ trẻ Phương Ngọc - ái nữ của hai ông bà Lý Phương Liên - Nguyễn Nguyên Bảy thực hiện…
Như lời Mở lòng đầu tập thơ, nhà thơ Lý phương Liên cho thấy: Lý Phương Liên xuất hiện thơ từ năm 1970. Sau đó, 1971, khi hạ sinh quý tử trưởng nam, thì gặp phải thác dữ thơ. Từ đó, Lý Phương Liên đi không đổi tên, về không đổi họ, nhưng không xuất hiện thơ nữa. Hàng chục năm, cụ thể 41 năm không xuất bản thơ. Hay là Lý Phương Liên coi thơ như là rượu, hạ thổ càng lâu năm thì càng có giá?!
Khoảng tháng 8.1970, Lý Phương Liên xuất hiện như một sự kiện thơ đất thủ đô Hà Nội. Thật bất ngờ báo Nhân Dân in hẳn một trang thơ Lý Phương Liên. Thật tình chúng tôi, những người cùng thời, gồm các nhà thơ, nhà văn, lý luận phê bình đều kinh ngạc. Thưa rằng, ngày ấy, kể cả các nhà thơ tiền bối và thành danh ai được đăng một bài trên báo Nhân Dân là vinh dự lớn.
Một buổi sáng trong khuôn viên Đài Tiếng Nói Việt Nam, 58 Quán Sứ- Hà Nội, nhà thơ Trần Mạnh Thường, đã có tiếng sau bài thơ dài "Đồng Chiêm trắng" nói với tôi "Bẻ bút thôi, thơ Lý Phương Liên ghê quá, bẻ bút thôi". Tiếp mấy ngày sau, báo Văn Nghệ Trung ương đăng hẳn một trang bài thơ dài của Lý Phương Liên, tựa đề "Nghĩ về Thúy Kiều". Bài thơ này, nay in vào tập sửa lại tựa đề "Trò chuyện với Thúy Kiều".
Và nhà phê bình lý luận đầu ngành là Hoài Thanh đã bình bài thơ này trên báo Văn Nghệ. Đời ông Hoài Thanh trước 1945, chỉ tôn vinh Thơ mới 1932 - 1941. Sau hòa bình 1954, ông Hoài Thanh chỉ phát hiện và giới thiệu hai tác giả: Lưu Quang Vũ và Lý Phương Liên. Trường hợp Lưu Quang Vũ thì từ loạt thơ đầu tay trong đó có bài thơ "Vườn trong phố". Còn Lý Phương Liên thì từ chùm thơ công nhân và bài thơ dài "Nghĩ về Thúy Kiều". Đó là vinh dự lớn với đời thơ Lý Phương Liên. Tuy nhiên cũng từ bài bình "Nghĩ về Thúy Kiều" của giáo sư Hoài Thanh, lập tức một dòng thác dữ dư luận ập xuống đầu nhà thơ Lý Phương Liên. Bây giờ, theo tôi, chúng ta nên nghĩ bài thơ "Định mệnh" xuất hiện không đúng lúc, thời buổi thơ ca, văn chương đang còn tập trung khí thế anh hùng cách mạng để chiến thắng cuộc chiến tranh phá hoại và giải phóng dân tộc. Với lại ngày đó, theo cách hiểu ngày nay, công bằng mà nói còn những hạn chế lịch sử…
Trong đêm thơ này, quý bạn thống nhất với chúng tôi, ta chỉ bàn về cái hay, cái đẹp, cái được của thơ Lý Phương Liên sau bao biến thiên thời cuộc, và sau bao tìm kiếm đổi thay thi pháp thơ nửa thế kỷ.
Thơ Lý Phương Liên ở tuổi 18 - đôi mươi mà đã phủ sóng thơ (hồi đó miền Bắc chưa có truyền hình), phủ sóng khá rộng và xa. Sâu từ tình yêu đền người lao động: đời người công nhân chúng mình, đời người lao động xóm mình và xã hội. Thơ viết tình yêu thì rất có cánh, thơ viết về cha mẹ thì vừa tự hào vừa buồn, rất buồn. Nghĩ về Thúy Kiều thì vào điệu trầm luân phận mình, phận người, kiếp này, kiếp xưa. Thơ Lý Phương Liên lục bát nhiều, đồng dao, kể chuyện và lấn sang thơ tự do (…)
Thơ Lý Phương Liên có một mảng đề tài rất đậm nét và rất thành công. Thơ hiện đại hoặc hậu hiện đại và bây giờ ít quan tâm đến đề tài thơ. Ngày đó văn thơ trên đất miền Bắc Xã hội chủ nghĩa thường vận động và đề cao đề tài viết về nhân dân lao động, đặc biệt là công nhân. Từng có một số nhà thơ viết thành công về đề tài này, nhưng chưa thật ấn tượng. Chùm thơ của Lý Phương Liên, đặc biệt là bài "Ca bình minh" đăng nguyên trang 2 của báo Nhân Dân, như một hiện tượng thơ. Sau Ca bình minh, phải kể đến Bài thơ lời ru trong đêm (trang 19). Đây là một trong những bài thơ hay của Lý Phương Liên. Tình yêu lao động lẫn vào tình yêu cuộc đời. Nỗi niềm thường ngày hay triết lý, ta chỉ biết nó quá chân thật và rất thơ.
Hôm nào làm việc hết mình
Là đêm ấy ngủ ngon
Đêm nào em cũng ngủ ngon
 
Khi ngủ
Cánh tay trần em gối đầu
Hai chân duỗi thằng
Và sau giấc mơ thoang thoảng
Cái đầu ngủ say...
...
Ru rằng:
Tay ơi hãy ngủ ngon
Em đáng được ngủ ngon

...
Và em tin: Ngày qua ngày tiếp nối
Đêm nào em cũng ngủ ngon..."
Thơ Lý Phương Liên viết nhiều về người lao động là công nhân như những người lao động trong xóm mình, thuộc và yêu mến, kính trọng những tính cách của họ.
Trong tập thơ Ca BInh Minh, nhà thơ Lý Phương Liên viết rất cảm động về cha và mẹ của mình và sâu sắc như cội nguồn của đời.
Hình ảnh cha:
"Hai bàn tay săn chắc/ Đôi mắt sáng và xanh /Chiếc kìm đen dắt chéo túi quần/ Mặt rạng rỡ nụ cười nhân hậu"
Hình ảnh mẹ:
"Và mẹ của con ngực cò rớm máu / Cánh gánh nắng sang sông/ Mút mắt ngô khoai bờ bãi sông Hồng / Chân mang gió qua núi/ Cánh cò cô đơn, cánh còn lặn lội..."
Trong tập thơ Ca Bình Minh của Lý Phương Liên có một bài thơ dài có tên bài "Trò chuyện với Thúy Kiều". Như đã nói, bài thơ được đăng trọn bài trên báo Văn Nghệ. Đặc biệt được nhà phê bình đầu ngành là cụ Hoài Thanh bình và khen. Nhưng cũng từ bài thơ này, tác giả Lý Phương Liên bị phê phán, hơn nữa là lên án kịch liệt, nói nôm na là bị đánh. Bài thơ này hẳn là bài thơ hay, nhưng vì ra không đúng lúc, đúng thời. Thời mà toàn Đảng toàn dân tập trung đánh giặc văn chương cũng nêu cao hào hùng chủ nghĩa anh hùng, lạc quan cách mạng để cổ động đánh thắng chiến tranh phá hoại và giành thống nhất đất nước. Và còn có thể có những hạn chế lịch sử ngày đó hạn chế đến thơ ca. Còn Lý Phương Liên viết từ hoàn cảnh thân phận ra nhà mình và giữa cuộc chiến tranh quá khốc liệt đạn bom, chết chóc. Trong khuôn khổ có hạn của đêm thơ, chúng ta không có thời gian để thưởng thức và bàn sâu về một bài thơ dài. Vậy xin trích vài đoạn thơ.
Nói với Kiều thì dài tâm sự, tôi chỉ đơn cử một đoạn:
"Em tuổi hai mươi như tất cả mọi người/ Chọn số phận ở thời mình đang sống…/Muốn hỏi Kiều, hồn Đạm Tiên có hiện về báo mộng/ Thời những trang Kiều bị tan nát đạn bom/ Để một mai ai biết Kiều buồn/ Đàn nàng gẩy không còn ai nghe nữa/ Định mệnh đây, chúng tôi bay qua lửa/ Cứu sống Kiều từng trang"...
Và với mình:
"Em đón nhận đời em sau một thoáng hãi hùng/ Chôn mẹ nuôi đàn em thơ dại/ An phận ư? Mơ hồ sợ hãi/ Sống vẫn là lời mẹ dặn thiêng liêng"...
Với đời người:
"Sông Hồng đó nọ Hồ Tây/ Chết trong nước cuốn có ngày nổi lên/ Kiểu gì chết cũng thấp hèn/ Kiểu gì chết cũng làm hoen ố đời/ Trên chết chóc muốn dập vùi / Trên đau thương mới là người người ơi"...
Kết thúc bài thơ dài lại sáng:
 "Chúng ta mở cửa cuộc đời/ Và cầm lái cuộc đời nhân định/ Giữa biển lớn thuyền chúng ta lướt đến/ Sáng toàn thân ánh sáng của con người"...

Nguồn: HVNTpHCM.

Chùm thơ Rabindranath Tagore/ bài 1,2


Chùm thơ Rabindranath Tagore

Mười bài trong tập Lời dâng


Poem 1

Thou hast made me endless, such is thy pleasure. This frail vessel thou emptiest again and again, and fillest it ever with fresh life.

This little flute of a reed thou hast carried over hills and dales, and hast breathed through it melodies eternally new.

At the immortal touch of thy hands my little heart loses its limits in joy and gives birth to utterance ineffable.

Thy infinite gifts come to me only on these very small hands of mine. Ages pass, and still thou pourest, and still there is room to fill.

Bài số 1

Vì vui riêng, người đã làm tôi bất tận. Thân này thuyền nhỏ mong manh đã bao lần người tát cạn rồi lại đổ đầy cuộc sống mát tươi mãi mãi.

Xác này cây sậy khẳng khiu, người đã mang qua núi, qua đồi, qua bao thung lũng, và phả vào trong giai điệu mới mẻ đời đời.

Khi tay người bất tử âu yếm vuốt ve, tim tôi ngập tràn vui sướng, thốt nên lời không sao tả xiết.

Tặng vật người ban vô biên vô tận, nhưng để đón xin, tôi chỉ có hai tay bé nhỏ vô cùng. Thời gian lớp lớp đi qua, người vẫn chửa ngừng đổ rót, song lòng tôi thì hãy còn vơi.

Poem 2

When thou commandest me to sing it seems that my heart would break with pride; and I look to thy face, and tears come to my eyes.

All that is harsh and dissonant in my life melts into one sweet harmony -- and my adoration spreads wings like a glad bird on its flight across the sea.

I know thou takest pleasure in my singing. I know that only as a singer I come before thy presence.

I touch by the edge of the far-spreading wing of my song thy feet which I could never aspire to reach.

Drunk with the joy of singing I forget myself and call thee friend who art my lord.


Bài số 2

Khi người ban lệnh cất lời ca, tôi thấy tim mình như rạn nứt, vì hãnh diện khôn cùng; ngước nhìn mặt người, mắt tôi ướt lệ.

Những gì trong tôi lỗi điệu, đục khàn biến thành hòa khúc dịu êm – như chim vui náo nức băng qua biển cả, lòng tôi đê mê giang cánh bay xa.

Tôi biết lời tôi ca làm người vui thích. Và tôi biết chỉ khi khoác áo ca công tôi mới đến trước mặt người.

Lời tôi ca vươn cánh rộng dài bay đến nhẹ vuốt chân người – bàn chân trước kia nào dám ước mơ chạm tới.

Say nhừ vì nguồn vui ca hát, tôi quên bẵng thân mình; tôi gọi người là bạn, Thượng Đế của lòng tôi.

(còn tiếp)
Nguồn: 10 bài thơ trong tập thơ Lời Dâng của Rabindranath Tagore (Song ngữ Anh-Việt. Đỗ Khánh Hoan dịch. Tạp chí Văn học nước ngoài/ vanvn.net

NĂM BÀI THƠ THẬT ĐẸP CỦA NGUYỄN THÁI SƠN


NĂM BÀI THƠ THẬT ĐẸP CỦA NGUYỄN THÁI SƠN


Nguyễn Nguyên Bảy  

                                             
Mời mình nghe Lục Bát Nguyễn Thái Sơn, trước khi lên đò ngang sang chợ bến. Tôi nói với mình cùa tôi như thế và ngân nga:
.
nông sâu cũng Bến - Trần - Gian
đời Người trôi dạt lang bang cọng bèo
một thời cay cực đói nghèo
một đời mê muội
cháy vèo thành tro…
.
Mình của tôi nghe thoang mà bảo: Thơ hay quá nhưng buồn...
Tôi mới bảo với mình của tôi, tuổi Nguyễn Thái Sơn chắc cũng lứa U 70, là anh đoán vậy,  vì hai mươi tuổi cầm súng đi chiến trướng, còn sống trở về và sống thêm sắp bốn chục năm trong hòa bình. Tuổi lứa U70, mình ơi, thơ ai viết đẹp không buồn? Tôi dừng nói, đưa tay vơ tiếp những thanh âm thơ Sơn đang lượn bay trong gió nghĩ.
.
đĩa đèn vừa thắp bấc mới cuộn vòng
dầu sóng sánh đầy
lửa mập tròn búp lá
mười tám tuổi lơ ngơ đồng đội tôi gục ngã
mười tám tờ lịch
đời người lính
- chưa khô nước nhấm đầu ngón tay !
.
Hình như mình của tôi muốn chen ngang câu gì đó, nhưng thấy tay tôi đang khoa khoa đều nhịp như hái hoa bắt bướm như khua mái chèo, mình biết là hồn tôi đang bị thơ bắt đi và hẳn là trong mang mang mơ hồ ấy còn lâu mới về. Là bởi sau mỗi khi dìm mình trong câu thơ đẹp của bắng hữu, tôi vẫn nói với mình của tôi như thế và năn nỉ, những lúc ấy, dù có yêu anh đến mấy cũng đừng hôn anh. 
.
dọc ngang dăm bảy thế cờ
nước hay thì ít nước sơ lại nhiều
mới ban mai đã xế chiều
già mau do phận buồn nhiều bởi thơ 
.
Khooái sướng cạn bốn câu thơ trên, cất tiếng gọi Mình ơi. Chỉ nghe cánh cửa bảo: Bà nhà đã lên đò sang chợ. Thoáng bực vì bỗng thiếu người chia sướng. Một mình ngẩn ngơ. Rồi nghĩ làn man, chỉ có mỗi một việc rau giá cá đậu cho sinh tồn sinh lý mà hôm nào cũng lội đò sang chợ. mới ban mai đã xế chiều ý này chúng ta đã gặp nhau, khoảng năm 1970, mình đã viết " Chưa sáng đã chiều, thời gian chảy máu", tất nhiên câu thơ của Sơn hay hơn nhiều, sắc sảo hơn nhiều. Nghĩ vậy, lại tiếp ngân nga:
.
bụi tinh vân kết Hệ Thiên Hà
làm nên thi ca viết thành lịch sử
đóng đàn dương cầm đúc bom nguyên tử
sinh ra em ra tôi
. 
Nguyễn Thái Sơn, bạn ơi, thơ đẹp nhưng buồn quá. Mình của tôi lúc nãy nói thế và may mà chỉ nói thoang thoang rồi vội ra chợ, may mà mình xuống đò, sông nước mùa này đang thu, và cũng may mà  lòng em cũng đủ nhuộm mầu thu vui...(thơ LPL) nên mình sẽ vui suốt sáng nay.
Lát nữa mình của tôi về, chắc chắn mình của tôi sẽ đọc 5 bài thơ đẹp nhưng buồn này của bạn. Và mong các bạn đọc của tôi cũng mở lòng như tôi và mình của tôi chào đọc thơ Nguyễn Thái Sơn.
.
Nguyễn Nguyên Bảy đò đưa 


Thơ Nguyễn Thái Sơn
.

LỊCH THẾ KỶ THỨ XX
.
Nhẹ bẫng trên tay một trăm năm trời
run rẩy lật từng trang
có dòng ta rúc rích cười
nhiều trang - rưng rức khóc
Thế kỉ Hai mươi
đảng này phe nọ chen chúc ra đời
tranh phiếu tranh ghế tranh đất tranh trời
chân tay gân guốc óc tim lép xẹp
chưa hưng thịnh đã lụi tàn
quẩn quanh vòng tròn nia mẹt…
chào đời ở trang này khép mắt ở trang kia
mỗi kiếp người dăm chục tờ giấy mỏng (*)
ngày tháng năm sinh
                               dãy số vừa ấm nóng
đã lạnh băng
cái nháy mắt Thời gian…
đĩa đèn vừa thắp bấc mới cuộn vòng
dầu sóng sánh đầy lửa mập tròn búp lá
mười tám tuổi lơ ngơ đồng đội tôi gục ngã
mười tám tờ lịch - một đời lính trận
chưa khô nước nhấm đầu ngón tay !
Thế kỉ Hai trăm Thế kỉ Hai ngàn rồi cũng qua đi
ta với em sẽ thành Người Vạn cổ
xương của ai chả trắng
máu thời nào chẳng đỏ
lãnh tụ thiên tài ư
độc tài phát xít ư
hậu thế quên những kẻ đáng quên
chỉ nhớ những gì cần nhớ !

SG,1994, sửa lại: 2004
____________
(*) Lịch Thế kỉ XX, mỗi tờ giấy (2 trang)
thể hiện các thông tin của 1 năm.


LỬA DIÊM
.
Từ trong sâu thẳm bóng đêm
kiếp người loé ngọn lửa diêm
rồi tàn
lại vô cùng tận Thời Gian
vực sâu không đáy mắt sàng hư vô
dọc ngang dăm bảy thế cờ
nước hay thì ít nước sơ lại nhiều
mới ban mai đã xế chiều
già mau do phận buồn nhiều bởi thơ
suối kia nước chảy lạc bờ
sông này chết nghẹn cạn khô giữa chừng
vàng tâm mục nát trong rừng
lồ ô vừa nhú chồi măng đã tàn
nông sâu cũng Bến - Trần - Gian
đời Người trôi dạt lang bang cọng bèo
một thời cay cực đói nghèo
một đời mê muội
cháy vèo thành tro…

VÔ ĐỊNH
.
Làm sao biết được khi nào mình sẽ xuôi tay nhắm mắt
nhưng sớm muộn điều ấy ắt sảy ra !
lá cây vẫn xanh người trồng bạc tóc
Tạo Hoá phẩy tay hết một kiếp Người
bài xưa đã quên bài nay chưa học
tám chín chục năm trời sớm muộn cũng Hư Vô
mực trên giấy khai sinh còn tím…
Vô định Thời Gian vô định Không Gian
không Hướng không Phương không Chung không Thủy…
Kẻ xuống Ga trước Người chờ Ga sau
Bạn Đường một chặng còn gì nữa đâu !
bụi tinh vân kết Hệ Thiên Hà
làm nên thi ca viết thành lịch sử
đóng đàn dương cầm đúc bom nguyên tử
sinh ra em ra tôi
ta sẽ là Hạt Bụi bay ngang trời
hay chìm sâu đáy biển ?...

SG,1993

VÉ KHỨ HỒI
.
Không muốn đi thuyền trưa tôi đợi đò chiều
Hồ Tây Thu xao lòng
níu tôi lại với Thăng Long mưa Ngâu vài đêm nữa
đoàn tàu về Nam rùng mình xao sác gió
ghế tôi định ngồi có người khác thay
nhưng có một chuyến - đi - định - mệnh đã an bài
không thay thế được nhau
không biết giờ “xuất bến”
không dúng dắng
chẳng trì hoãn được
đến từ Vĩnh Hằng
vạ vật một đời
cái quán trọ bình dân Địa Cầu mà sao đầy oan nghiệt
Vé - Khứ - Hồi mã hóa trong máu thịt
chuyến Tàu Vô Định lại đưa người đưa ta về Cõi Hư Vô…

MẢ TÙ
.
Một đàn gọng vó chèo đò
dăm con nhái bén thập thò miệng hang
đầu thừa đuôi thẹo nghĩa trang
rào thưa nẻo tắt dọc ngang trâu bò
thanh minh còn thấy xanh ngô
mưa ngâu tháng bảy nhấp nhô nổi chìm
mộ phần chẳng thấy tuổi tên
dăm ba chữ số vạch trên ván thùng
hỏi “sao đắp chỉ lưng lưng”
rằng “nông choèn tiểu đất chừng ấy thôi”
“trẻ - già trai - gái ngược - xuôi ?”
“đã nằm góc ấy chỉ người trại giam !”
cỏ khâu ngoi nước úa tàn
kiếp người còn lại nhân gian chút này
chết rồi hết nợ sạch vay
nhúm xương tù tội biết ngày nào tha !
sống thành nhân chết làm ma
ngậm ngùi kiếp nạn xót sa phận người
hương hoa - bẹ chuối thả trôi
biết rằng còn được luân hồi nữa chăng…

Nghĩa trang Phủ Lý, 2001

Thơ Nguyễn Thái Sơn

Lại đây thơ tý hỡi người "Điêu ngoa"

Free Image Hosting at www.ImageShack.us
.
Trần Vân Hạc
.
Sau những ngày bôn ba du ngoạn Tây Bắc và dự trại sáng tác ở Mộc Châu về. Hà Nội oi nồng nắng nóng nên đành giam mình trong nhà làm bạn với cái máy tính không bao giờ biết kêu ca đòi hỏi, thì bất ngờ nhận được lời bình của nhà thơ Hoàng Xuân Họa về tập thơ: “Mục xó xỉnh cười” của Du Nguyên, XNB Hội Nhà văn-2011.
Thơ Du Nguyên đã mới, đã “điêu ngoa”, đã lạ, lại được “chàng trai” Hoàng Xuân Họa, sinh năm 1939 với hai lần “Trót một thời yêu” và viết cuốn “Luật thơ, thể thơ và cách làm thơ”, người đã từng cả gan rao: “Ai mua đi hộ Hồ Tây/ Đem xa ra khỏi chỗ này cho xong”, vì không cầm lòng được trước sự vô trách nhiệm và vô lương tâm của con người đang làm méo mó cảnh quan của Hồ Tây yêu dấu bình thì còn gì bằng nữa. Một người “điêu ngoa” trẻ trung gặp một người “điêu toa” thâm trầm, uyên bác. Đúng là một cặp bài trùng trời sinh giữa biển thơ thời mở cửa!
Những cái Du Nguyên viết có phải là thơ không nhỉ? Mới đọc vài dòng thì thật không thể nhịn cười rồi lặng đi trong suy ngẫm. Cấu tứ lạ, ngôn từ lạ, tràn ngập âm thanh và hình ảnh lạ, cách thể hiện lạ nhưng đằng sau những con chữ “điêu ngoa” lạ kia là cảm quan của người viết trước bộn bề cuộc sống, trước lòng người và nhân tình thế thái một cách tinh tế và sâu sắc:
ngày hiu hiu
lòng hiu hiu
líu tíu như quả cà kiu
chiều tiu híu
em buông xíu xíu.…
à ơi bé tí
à ơi lớn tí
à ơi hay xí
em già rồi mà tâm hồn lí tí.
Rồi:
Và lại bắt đầu buồn bằng ngón chân phờ phạc
đốm nắng điệp ngôn bằng những ca từ mụ mị
căn nhà, mạng nhện, giá sách, quạt điện
tôi đang gõ
những điêu ngoa
Cái cách thể hiện độc đáo, đôi khi mang âm hưởng dân gian tạo một ấn tượng khó phai đến mức ám ảnh khi đã hiểu và cảm. Ô! Thế là thơ chứ còn gì nữa, thơ đích thực ấy chứ, mà cái thú là thơ Du Nguyên không hề giống ai, không như bây giờ đọc thơ cứ phải nhấc mũ chào liên tục, hoặc “mới” và ” “hiện đại” đến mức người đọc không hiểu họ viết cái gì!
Tôi không có duyên may được đọc hết cả tập thơ của Du Nguyên nhưng chỉ đọc mấy bài: Lại đây thơm tý, Điêu ngoa, Mùa hạ cuối cùng, Lẻ, Niệm nhưng đã để lại trong tôi một ấn tượng khó phai. Tôi yêu cái “điêu ngoa” của Du Nguyên khi nói rằng:
Tôi cũng điêu ngoa
Giống họ
Khi nói yêu anh.
Tôi đồng cảm cùng Du Nguyên trước những miệng lưỡi “điêu ngoa” của thế gian, giấu đi bao thói hư tật xấu sau những mỹ từ bóng bẩy, những khuôn mặt từ bi, những huyễn hoặc và tự thỏa hiệp mình. Và cái “điêu ngoa” của Du Nguyên sao mà thật và trong sáng đến thế.
Rồi bài: “Mùa hạ cuối cùng”, hình tượng thơ “những chiếc bong bóng” để lại cho người đọc bao ám ảnh và suy ngẫm. Những câu cuối làm cho người đọc day dứt mãi trước cảnh:
Cô gái có thói quen thổi những chiếc bong bóng
Nghe những điệu hát của người Digan khi buồn
Cô gái ấy cũng ra đi vĩnh viễn
Theo mùa hạ tụt huyết áp cuối cùng.
Hình tượng thơ: “Theo mùa hạ tụt huyết áp cuối cùng” chắc chỉ có trong thơ của Du Nguyên.
Và khi đọc: “Lẻ” tôi gai người trước lối thể hiện độc đáo của Du Nguyên. Tôi tự hỏi mình: có phải ta cũng mang mấy đồng xu lẻ để mua những khát vọng cuộc đời, để khi hiểu ra thì đã muộn:
Tôi đã khóc
Vì trong giấc mơ ấy, tôi không thương mình
Mà đi thương nỗi cô đơn thuộc về người khác
Rồi giấc mơ bỏ tôi đi
Đồng xu cuối cùng cũng biến thành đường chỉ tay mới
Đứt gãy những quãng mùa buồn bỏ lại phía sau.
Tôi là kẻ khất thực đêm
Trắng tay đi yêu nỗi cô đơn không phải của mình.
Đến ngay cả bài “ Niệm” cũng có những cách tân với những sắc màu, âm thanh, nhịp nhạc rất lạ:
cây cơm nguội rắc vàng xuống phố
Tháng Ba hoe xanh sũng mắt cào cào
Sầu đông tím chở quạnh buồn lang thang trên dốc gió
Rưng rức heo may
Trong khung cảnh đó:
Nơi cơn giông màu đỏ tháng Ba chưa tắt
Anh đi ngược phía em
Cầm chiếc ô ố màu mận chín
Tìm cỏ cô niệm.
Và rồi:
Chúng ta đã không tìm thấy nhau dưới gốc thược dược già
Tháng Ba vẫn thế
Xanh xưa trong ánh mắt veo tròn.
Đúng là một giọng điệu lạ, đầy sự sáng tạo và hiện đại, đầy cá tính, sắc sảo, dân dã mà không kém phần sang trọng, hứa hẹn sẽ có những bài hay hơn, những tập được nhiều bạn đọc mến mộ hơn. Ai không tin chứ tôi tin chắc như vậy. Đâu có phải tự nhiên mà Khoa sáng tác và lý luân-phê bình văn học (tiền thân của trường viết văn Nguyên Du) ĐHVHHN phải trên 10 rồi, đến năm nay mới có hai điểm 10 cho hai luận văn, một của Lữ Thị Mai với 15 bài thơ rút từ tác phẩm GIẤC- NXB Hội Nhà Văn VN; và 15 bài thơ rút từ tác phẩm MỤC XÓ XỈNH CƯỜI của Du Nguyên (Đậu Thị Dung) do các phó giáo sư Văn Giá, tiến sĩ Chu Văn Sơn và các nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, nhà thơ Bằng Việt, nhà thơ Nguyễn Hữu Quý vừa hướng dẫn vừa phản biện- phản biện chéo đều đi đến thống nhất cho điểm 10. Còn tôi chỉ lo, yêu thơ Du Nguyên, nếu có ngày duyên may được gặp lại lỡ miệng: “Lại đây thơm tý hỡi người điêu ngoa” thì có khi lại chuốc vạ vào thân!
.
Trần Vân Hạc

Thơ Trạng Duyên/ Bà Tổng ra tòa


Bà Tổng ra tòa

Trạng Duyên

Tòa án nhân dân quận Ô Môn (thành phố Cần Thơ) đã lên lịch, dự kiến ngày 16-3 sẽ đưa ra xét xử vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán cá”, xét xử vụ bà Phạm Thị Diệu Hiền, một đại gia nổi tiếng “như cồn”, nợ số tiền lớn mua cá nguyên liệu của nông dân. Ngân hàng NN-PTNT, Chi nhánh Cần Thơ, vừa từ chối khoản vay 350 tỷ đồng đối với Công ty CP Thủy sản Bình An do bà Diệu Hiền làm Tổng Giám đốc. Lý do là phía công ty không đảm bảo việc thanh toán nợ, không còn các khoản thế chấp tương ứng. Trước đó, bà Hiền đã có tờ trình gửi lên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để xin xét hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp. Theo đó, bà Hiền xác nhận còn nợ tiền cá của nông dân lên đến gần 250 tỷ đồng.

Ở thành phố Cần Thơ ai cũng biết, bà Diệu Hiền thành đại gia không phải tài cán làm ăn gì, mà bắt đầu từ khi lèo lái quan hệ để được một số “ông cao cấp” bảo lãnh, chạy chọt các “dự án ảo” để chiếm dụng hàng mấy chục ha đất của dân, rồi phân mảnh bán nền giá cao. Từ đó, Bà Hiền có cớ giấy tờ và tài sản thế chấp để vay tiền ngân hàng, dùng tiền ngân hàng “mượn đầu heo nấu cháo”, lòng vòng đập chỗ này chỗ kia và báo cáo láo đánh lừa chính quyền và ngành chủ quản.
Bà Diệu Hiền chính là người đã tổ chức đám cưới cho con trai hôm 19-2 mới rồi gây nhiều tai tiếng với lễ rước dâu cực kỳ hoành tráng hiếm có, với một đoàn dài dằng dặc toàn xe siêu hạng đắt tiền. Dẫn đầu đoàn là Bentley Continental Flying Spur Speed màu trắng (giá mua tại Mỹ hiện nay là 170.000 USD) với cặp đôi trái tim bằng hoa gắn ở mũi. Tiếp đến là chiếc Phantom (tại Mỹ giá 380.000 USD) trắng tinh. Một chiếc Phantom màu đen khác mang biển tứ quý 3...
Giải thích lý do cho đoàn xe siêu sang chạy như diễu hành khắp Cần Thơ, bà Hiền thú thật rằng muốn khẳng định với mọi người là cá nhân vẫn là đại gia “đang phất”, không nợ nần ai chớ không phải muốn “chơi trội”.

Vậy, có thơ rằng:

Tung nhiều mánh lới kinh doanh
Đất đai chiếm dụng mà thành đại gia
Nông dân mất đất không nhà
Công ty lại đặt tên là Bình An
Làm ăn cái kiểu dối gian
Moi tiền Nhà nước xài tràn cung mây
Thế mà quan lại xứ này
Lại phong: “Phụ nữ có đầy tài năng”
Lên đài phát biểu rất hăng
Bộ, ngành lại cấp thêm bằng ngợi khen
Chỉ là canh bạc đỏ đen
Bao năm đã sẵn thói quen đánh lừa
Khéo mồm ăn nói đẩy đưa
Ngân hàng tưởng thật ký bừa cho vay
Bây giờ nợ đã chất đầy
Nông dân thưa kiện lại bày kế gian
Ầm xèo đám cưới thật sang
Tung tin rằng vốn cả ngàn triệu đô
Phiên tòa mở cửa đón chờ
Hết thời chạy mành lập lờ trắng - đen./.


Trạng Duyên
trannhuong.com

Thơ của Gió Phương Nam


Thơ của Gió Phương Nam

Mẹ

Con không đủ vốn từ định nghĩa lớn lao
ví đất rộng trời cao hay suối nguồn bể thẳm
bao mưa nắng gừng cay muối mặn
cũng không sao tạ hết ơn người
Khi con được làm mẹ- Mẹ ơi!
hình ảnh ấy từng giờ trong con hiện hữu
lúc cấn thai rồi con chòi, con quẫy
hạnh phúc vỡ òa khi núm ruột sinh ra
ngần ấy thời gian dù bão tố phong ba
Mẹ nâng bước con trong nối dài cổ tích
lúc tuyệt vọng đớn đau hay niềm vui hạnh phúc
Mẹ là bóng râm che chở suốt đời con
đời Mẹ tảo tần thương khó bao dung
gia tài quý nhất trên đời là con của Mẹ
khoảng cách tưởng chừng như không thể
con đã lớn khôn trong xúc cảm cội nguồn!

Thơ Gió Phương Nam

trannhuong.com


Thơ Hoàng Tấn Đạt


Ru mẹ

Hoàng Tấn Đạt

Ngày xưa thì mẹ ru con
Nay con ru mẹ cho tròn nghĩa nhân
Mẹ ơi thương mẹ bội phần !
Bàn tay run rẩy gót chân ngập ngừng
Ba bước đi một bước dừng
Bữa ăn thắt thẻo thìa lưng thìa đầy
Bạc mái đấu trắng đôi tay
Sống trong hoang tưởng ngỡ ngày là đêm
Mang máng nhớ, mập mờ nhìn
Tình yêu chân thật niềm tin dại khờ
Tự bao giờ đến bây giờ
Vẫn mong bụt hiện vẫn mơ Thiên Đàng
Dòng đời lỡ chuyến đò sang
Níu vầng trăng khuyết bẽ bàng chơi vơi
Mẹ như mất cắp cuộc đời
Tái tê thấu tỏ kiếp người trầm luân
Lòng son phong trọn chữ tâm
Lần tràng hạt để xa dần cõi mê
Tây phương định hướng trở về
Thời gian sắp tận đường đi sắp cùng
Lại theo con tạo xoay vòng
Lời ru mẹ giữa mênh mông đất trời !
.
Thơ Hoàng Tấn Đạt
Vanhac.org

Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012

THƠ GỬI VỀ TIÊN LÃNG


Triệu Lam Châu

Nhà thơ Triệu Lam Châu tiếp tục gửi về Tiên Lãng:  Khi  mới đọc câu đầu “Ngày xưa có trống kêu oan” trong bài thơ “Nỗi lòng Đoàn Văn Vươn” của Hồ Bá Thâm – tôi lập tức như bị điện giật, đau buốt vô cùng, bủn rủn chân tay và tan nát như hết cả cõi lòng mình… Đúng thế, hồi xưa thời phong kiến có cái trống to ở sân đình để dân đánh kêu oan. Oan càng to thì tiếng trống càng lớn càng âm vang, để thức tỉnh lương tri. Ngày nay ta không có trống ấy, nên gia đình Đoàn Văn Vươn bao lần lặng lẽ viết đơn khiếu nại chính quyền Tiên Lãng… Thế mà…oan vẫn hoàn oan……”Ngày xưa có trống kêu oan. Bây giờ không có, phải làm sao đây? Quan tham, nha lại bủa vây. Thôi, đành nhắm mắt nổ ngay súng còm!”

 
SÚNG HOA CẢI
.

Súng hoa cải – đạn đỏ hồng
Nghe như khẽ nở tiếng chuông xa vời
Thế mà vang động cả trời
Nhóm lên hạt lửa cõi người thẳm sâu.

 OAN
.

Chồng trong song sắt đen thâm
Vợ con – lều bạt căm căm rét lùa
Càng thương vườn chuối xác xơ
Từng cơn gió buốt… con cò … kêu oan!...

CĂN LỀU
.

Căn lều lợp mảnh hồn người
Bà con cô bác muôn nơi gửi về
Nụ cười… mà lệ tràn trề
Phải chăng xuân đã cận kề bến vui?

GƯƠNG ĐẦM MẶT NƯỚC TRONG LÀNH
.

Gương đầm mặt nước trong lành
Mỗi chiều xế bóng long lanh nắng ngời
Tấm lòng đồng cảm muôn nơi
Tụ về đây nhuộm màu trời thêm xanh…
. 
Tuy Hoà, Phú Yên chiều 2 – 3 – 2012

.
lethieunhon.com